Trích thư độc giả về vấn đề ông CE Hằng Trường

Home/Trích thư độc giả về vấn đề ông CE Hằng Trường
Trích thư độc giả về vấn đề ông CE Hằng Trường 2016-10-25T19:07:26+00:00

HayTha2.jpg

Trích thư độc giả về vấn đề ông CE Hằng Trường

Trả lời thư độc giả về vấn đề ông CE Hằng Trường

 

Trích thư độc giả về vấn đề ông CE Hằng Trường

 

tôi tên vinh … tôi có quen một vị đồng hương S. một cư sĩ tại gia trên L.A, thử đặt câu hỏi về hiện tượng người tu lạc hướng (tôi cho là ông Hằng Trường lạc hướng, lạc ra sao thì sẽ xin góp ý trong thư này), thì Sư  phụ, quý thầy huynh đệ đồng đạo có thể can gián, chấn chỉnh được gì? Anh S. từ tôn đáp là muốn khuyên ai cũng phải tuỳ duyên thuận nhĩ, còn bằng không thì chỉ chấp tay nguyện cầu giùm cho cái nghiệp chướng của kẻ tu hành lẫn người đời lầm lỗi.

tôi không cho đó là giải pháp triệt để, tự thắc mắc là bên ngoài ngôi chùa tổ, vị bổn sư đã qui tịch, thì còn những ai có thể ngăn cản, giáo hoá được một trong số vị học trò lầm đường lỡ bước?

Bên Thiên chúa giáo âu châu, các vị linh mục cấp tiến trước một vấn đề tâm linh thoái hoá, một vấn nạn xã hội đương thời,  thường khi sẽ đứng tên chung trong một thư ngỏ, lí luận và phản biện lại lập trường giáo hội, Hội đồng giám mục, kể cả đức Giáo hoàng khi các vị lãnh đạo tối cao lẫn đồng đạo nào đó trong giáo xứ, giáo hội mẹ của họ bị giáo điều, mê tín, đi ngược lại kinh điển và chức năng con chiên Thiên chúa!

Bên Phật giáo chỉ có truyền thống tu tại tâm thôi sao? Thấy, nghe và biết hết, nhưng thường là thái độ im lặng một cách lạ lùng! Có thể hệ thống Phật giáo không có lớp lang thứ tự, nhưng điều gì cản trở khi bậc trưởng tử Như lai, như quý Thầy và những vị tu sĩ khác cùng lên tiếng về hiện tượng CE Hằng Trường? Lên tiếng không phải đi từ sự ganh tị mà vì mà muốn cứu sanh độ thế trong thời buổi nhiễu nhương ma vương quỹ dữ, há chẳng nên làm?

Về vị tu sĩ phi Phật giáo CE Hằng Trường, tôi có góp ý với L. hồi năm ngoái, và lần này hữu ý nhưng vô tình tôi cũng đã so sánh pháp tu của ông ta tương tự như lề lối dụ đạo cuồng tín của bà Thanh Hải (người gốc bên Đức, cùng thời nên tôi có dịp quan sát, cũng là một hiện tượng ma đưa đường chỉ lối nhập nhằng Phật giáo) với những người bà con mê tín, những người tuy có lòng nhưng lại phụng sự và tế lễ bùa chú, luyện võ, rắn rồng, hưu, vượn tự chế biến rồi xem đó là gia tài Phật giáo, là truyền thống và kiến thức tu Thiền giới thiệu như là “toàn diện“ được thầy tổ là đại lão HT Tuyên Hoá giáo huấn!

Ông Hằng Trường đang tu tắt, … nóng vội, muốn ngốn cả ngàn trang kinh điển mà người tu đàng hoàng cả đời như đại lão HT Tuyên Hoá cũng không hề dám nhận mình thông. Tôi được nghe ông ta nói cho rằng là mình bị đồng đạo ganh tị, nên thầy tổ là ngài Tuyên Hoá đòi lại cái tên, mà trong Vạn Phật thánh thành người ta chỉ xưng hô với ông bằng danh gọi là “thằng Việt Nam“. Nhưng một cách cao ngạo, ông ta cho biết ngay tự thuở lọt lòng đã ngộ Phật khi trên đường từ nhà hộ sinh về, được thân phụ ghé chùa Từ Hiếu ở Huế làm lễ, nên từ đó bẩm sinh đã thông thái, học đâu nhớ đó kỉ lục (1/2 tạng kinh trong 6 tháng)!

Ông ta bỏ công xào nấu ra cái nhãn hiệu gọi là tu hành về mọi mặt (bồ tát), mọi phương diện của cuộc sống bao gồm tâm linh, tâm lý (phép thần thông, đi hỗng đất), trí năng, đạo đức, quan hệ xã hội (cứu trợ nơi khốn khổ, tự đem đạo Bồ Tát ra hoàn thành, tạo từ bi giúp đời. sic) và nhất là sức khoẻ thân thể, rất chịu khó Marketing bằng phương tiện truyền thông hiện đại nhờ vào đám đệ tử trẻ, ham vui cùng thầy (khoái trả tiền để lên bục giảng ti vi như Mục sư tin lành Mỹ, phát hành DVDs, in ấn tài liệu màu mè, mở khoá tu hầm bà lằng…) lại cho ra món võ Càn khôn thập linh (chưởng), dưỡng sinh thập huyền cộng vài thế luyện Yoga, để rồi múa may, con cò con hạc, con trâu con bướm, nói chuyện lung tung để cắt nghĩa về khác biệt giữa đàn ông đàn bà tu Phật (một chút sex trong đạo Phật chăng?), chẳng dính dấp gì đến giáo chỉ và pháp giới ngài bổn sư trao truyền.

Theo tôi thì ông nên mở lò võ luyện chưởng , Kung-Fu thì tốt hơn là con đường đội lớp tăng sĩ, mà nhất là lại là tăng sĩ Phật giáo đã ra khỏi chùa!  …

Nhiệm vụ của người tu chánh pháp có thể làm được gì để hướng dẫn tâm linh cho tín giáo đồ mê muội. Vạch trần con đường tu tắt, … thích phát minh ra giáo phái, ngang hàng giáo chủ ?

Hay là cứ để vậy như một bà vô thượng sư …, mặc cho bao nhiêu gia đình theo bả bị điêu đứng, tan hoang tài chính lẫn tinh thần?

Cám ơn trước nếu được quý Thầy chỉ dạy chữ nhẫn trong cái nôn nóng của một phật tử thấy tà ma ngoại đạo.

txv

 


HayTha2.jpg

Kính gởi anh TXV và những Phật tử quan tâm đến vấn đề ông CE Hằng Trường,

Xin tùy hỷ công đức cùng anh Vĩnh cùng một số Phật tử đã chia sẻ cảm tưởng và nhắc nhở chúng tôi về vấn đề ông CE Hằng Trường, chúng tôi kinh chia sẻ cùng anh và quý Phật tử một số ý kiến như sau:

 

  1. Vấn đề chân thật và từ bi

Hoà Thượng chú trọng xây dựng Tăng Đoàn dựa trên Sáu Đại Tông Chỉ để kiểm soát tâm mình, sửa đổi thói hư tật xấu, không mong cầu bên ngoài. Các thành viên xuất gia trong Tăng Đoàn Vạn Phật Thánh Thành mang tên chữ Hằng hay chữ Cận … đều dùng Sáu Đại Tông Chỉ: Không Tranh, Không Tham, Không Mong Cầu, Không Ích Kỷ, Không Tự Lợi và Không Nói Dối làm kim chỉ nam để tu hành, không dùng mở Luân Xa là mục đích tu hành như trong bài Mô Hình Tu Toàn Diện ông CE Hằng Trường đã đề cập. Đã gọi là toàn diện thì từ bi và chân thật đều phải có. Nhưng ông ta lại thiếu chân thật và thiếu từ bi đối với chúng sanh vì đã không nói thật.

Trước đây chúng tôi được đọc quảng cảo thấy giới thiệu ông ta là “đệ tử cưng”, “đệ tử xuất sắc” của Hoà Thượng Tuyên Hóa, chúng tôi rất ngạc nhiên! Đây đúng là quảng cáo không đúng sự thật!. Nếu đọc bài Phật Sự Trong Mộng (1) thì chúng ta sẽ biết ông ta có phải là “đệ tử cưng”, “đệ tử xuất sắc” hay không. Hòa Thuợng đã nói thẳng với ông ta:

Bốn người sám hối, chỉ có ông duy nhất là người tiếp tục nói láo! Ông nói là ông sẽ sửa đổi, tôi không tin tưởng! Nếu người khác biết thì ông mới nói, chỉ nói khi sự đã rồi, những điều người khác không biết thì ông không chút đề cập gì cả. Luôn luôn che dấu! (2)

Như chúng ta biết, Phật Giáo luôn chủ trương chân thật và từ bi. Trong 5 Giới Căn Bản (Ngũ Giới) của Phật Giáo có giới không nói dối. Trong Sáu Đại Tông Chỉ là gia phong của Vạn Phật Thánh Thành là một hình thức khác của 5 giới cũng có tông chỉ Không Ích Kỷ và Không Nói Dối.

Hoà Thượng Tuyên Hóa nói:

Không ích kỷ tự tư thì không phạm giới vọng ngữ. Tại sao phải vọng ngữ? Bởi vì muốn bảo vệ lợi ích riêng tư của mình, cho nên đi đến đâu thì gạt người và nói dối đến đó. Nếu mình không ích kỷ, dù ở đâu mình cũng có thể nói lời chân thật và không có chút hành vi lừa dối nào. (3)

Và trong Kinh Hoa Nghiêm Lược Giảng – Phẩm Hiền Thủ, Hoà Thượng Tuyên Hóa nói:

“Bất luận là với ai, tôi cũng đều nói những lời pháp chân thành như thế. Tôi không muốn lừa dối quí vị. Tôi không muốn nói những điều quí vị thích nghe mà lại không có tác dụng gì.” (4)

Đó là vì lòng chân thật và từ bi nên không muốn lừa dối kẻ khác.

Ông CE Hằng Trường thiếu chân thật với Thầy của mình và với Phật tử. Hòa Thượng phạt ông ta về tội Khinh Thầy Diệt Tổ (欺師滅祖 – Khi Sư Diệt Tổ (5)) nhưng ông ta kể lại với Phật tử là Chùa bị mất tiền nên Hòa Thượng nghi và phạt oan ông ta! Sự thật hoàn toàn khác!

Trong Phật Sự Trong Mộng (1) ghi rõ tâm tánh của ông CE Hằng Trường:

Một người từ Việt nam (Hằng Trường), từ đầu chí cuối, trên che dưới đậy, trước né sau núp, khéo lánh nặng tìm nhẹ luôn đóng vai luật sư biện hộ để chạy tội cho chính mình, lại quen dùng khổ nhục kế để chuyển hướng vấn đề hầu phân tán sự chú ý mọi người, lại còn tranh thủ sự đồng tình của ai không rõ tự sự. (2)

Tâm tánh này đã ăn sâu và đến nay chúng ta vẫn thấy ông CE Hằng Trường không nói đúng lý do bị phạt, không nói rõ là ông ta có hoàn tục và xuất gia lại với một vị Thầy ở Đài Loan … vẫn “trên che dưới đậy, trước né sau núp,… đóng vai luật sư biện hộ để chạy tội cho chính mình”. Ông ta vẫn mập mờ làm như tôn kính và theo đường lối tu hành của Hòa Thượng Tuyên Hóa nhưng hướng dẫn người nghe vào đường tà đạo tham cầu; đã bị loại trừ ra khỏi Tăng Đoàn Vạn Phật Thánh Thành nhưng vẫn đặt tên người quy y theo chữ Thân của Vạn Phật Thánh Thành, vẫn “tranh thủ sự đồng tình của ai không rõ tự sự”.

Ngoài ra trong bài :”Tại sao chúng ta tụng đọc hằng ngày ‘Ngày Ăn Một Bữa’ và ‘Luôn Mặc Áo Giới’ tại Vạn Phật Thánh Thành ?” có đề cập:

Nếu quý vị nghe người khác nói rằng họ trước đây từng sống ở Vạn Phật Thánh Thành và rằng Hòa Thượng đã truyền Pháp cho họ, rằng họ từng giữ chức vụ như thế này thế kia, rằng họ là một vị Thầy Thủ Tọa (đứng đầu), hoặc là Hòa Thượng đã truyền Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn cho họ, quý vị đừng lưu tâm hay lắng nghe những điều này. Có thể rằng khi họ mới đếnVạn Phật Thánh Thành, Hòa Thượng đã để họ thuyết Pháp, nhưng quý vị phải hiểu rằng tất cả bốn chúng đệ tử đều phải học thuyết Pháp. Đó là một trong những quy củ của Vạn Phật Thánh Thành. Tuy nhiên, họ có lẽ không đề cập một lời nào về việc thế nào hay tại sao họ cuối cùng đã rời bỏ đi. Tôi muốn đưa việc này ra vì nhiều người đã đến hỏi tôi. Vì vậy, tôi muốn nhân cơ hội này để làm sáng tỏ tình hình. Ngoài ra, sau khi Vạn Phật Thánh Thành được thành lập, Hòa Thượng không bao giờ lập ra vị trí “Thầy Thủ Tọa” trong bất cứ tu viện chi nhánh nào của ngài. Tất cả các đệ tử của ngài được chia thành phía Nam và phía Nữ. Chúng ta sắp hàng theo thứ tự thọ giới, ngoại trừ Thầy Phương Trượng, là người đứng chánh giữa Phật Điện.

Thêm nữa, còn có Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn. Hòa thượng đã nói với Thầy Phương Trượng của Vạn Phật Thánh Thành: “Con phải truyền Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn cho các thế hệ kế tiếp tại trước tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn trong Vạn Phật Điện tại Vạn Phật Thánh Thành.” Có một số người nói: “Chúng tôi nên làm như thế nào ? Chúng tôi không thể đi đến Vạn Phật Thánh Thành bây giờ. Nếu như vậy chúng tôi không thể học Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn hay sao ?” Tôi thật sự không thể trả lời câu hỏi này. Hòa Thượng không đề cập đến vấn đề này và các đệ tử cũng đã không hỏi về việc này. (6)

Ông CE Hằng Trường lại còn tổ chức lễ và để Phật Tử chiêm bái xá lợi Hoà Thượng Tuyên Hóa, chúng tôi không biết những xá lợi đó do đâu mà có, ông ta có xin những xá lợi đó từ Vạn Phật Thánh Thành không? Ông ta đã rời khỏi Chùa Vạn Phật Thánh Thành, hoàn tục rồi xuất gia nơi khác, rồi đi theo hướng mở Luân Xa, Mạn Đà La Siêu Độ … thì có lẽ nên trả những xá lợi đó về cho Vạn Phật Thánh Thành. Nếu không cho mà lấy thì không đúng Pháp! Xá Lợi của Hòa Thượng chỉ được phân phối về các đạo tràng chi nhánh của Vạn Phật Thánh Thành và không cá nhân nào được giữ riêng. Nhưng xá lợi tâm linh chân thật nhất của Hòa Thượng chính là Sáu Đại Tông Chỉ: Không Tranh, Không Tham, Không Mong Cầu, Không Ích Kỷ, Không Tự Lợi, Không Nói Dối. Ông ta có tôn kính những xá lợi tâm linh này không? Trong bài Khai Thị Năm Mới Con Người Mới, Hoà Thượng nhắc nhở:

Riêng những người xuất gia, nếu quý vị nói dối thì chắc chắn sẽ bị đọa địa ngục Vô Gián, vô phương giải cứu! Ðó là do quý vị đã lừa người lừa mình, lừa chư Phật và chư Bồ Tát; quý vị đã “trợn tròn mắt, nói năng ngang ngược” – đó là những điều không thể chấp nhận được! Có thể là quý vị không nhận thức được sự nghiêm trọng của vấn đề; song, đến khi đọa địa ngục dù quý vị có hối hận thì cũng đã muộn rồi! Do đó, người xuất gia một khi đã thọ Giới-luật rồi thì dù thế nào đi nữa cũng không được nói dối, Không được đổ lỗi cho người khác để chạy tội, không được chối cãi hoặc không chịu nhận lỗi. Quý vị nên thành thật và thực sự tu hành, và hãy tu hành với chẳng chút tham cầu. Như thế, một khi quý vị đã gột rửa nội tâm sạch sẽ rồi, thì trí huệ, Ngũ Nhãn và Lục Thông của quý vị sẽ tự nhiên xuất hiện. Quý vị không chịu gạn lọc tâm mình cho trong sạch mà lại muốn đạt được Ngũ Nhãn, Lục Thông ư? Quý vị sẽ không đạt được một phép thần thông hoặc một chút trí huệ nào cả! Quý vị sẽ không hiểu được điều gì cả, và sẽ chỉ là những kẻ ngu muội, mù quáng mà thôi! (7)

  1. Vấn đề lên tiếng cảnh báo cho Phật tử

Đối với vấn đề anh thắc mắc là quý Thầy biết rõ mà không lên tiếng chúng tôi xin trình bày là thời gian đầu mọi người tại Vạn Phật Thánh Thành theo phương pháp “mặc tẩn” như Hòa Thượng Tuyên Hóa đã nói:

Ví như một vị Tỳ Kheo có tánh xấu ác thì mọi người dùng phương pháp “mặc tẩn” để hoán cải họ. Sao gọi là mặc? Mặc là im lặng, không có giảng giải gì thêm với họ. Tẩn là gì ? Nghĩa là mọi người không được trao đổi, quan hệ gì với họ. Hãy dùng sự “im lặng” của đại chúng để giải hóa họ. Phàm gặp phải hạng Tỳ-kheo xấu, không biết đạo lý, lấy chánh làm tà lấy tà làm chánh, hoặc không phân biện thị phi đen trắng, không hiểu đúng Phật pháp, thì đừng giao tiếp, đừng nói chuyện với họ, đừng để ý tới họ, thì nên coi như họ không có, như vậy lâu dần họ sẽ tự phản tỉnh, họ sẽ nhận ra rằng những điều họ hành động lâu nay chẳng đúng với Phật pháp, và từ đó cải tà quy chánh, y giáo phụng hành. (7)

Vào năm 1993, Hòa Thượng Tuyên Hóa đã ra thông báo lưu ý mọi người về những kẻ lạm dụng danh nghĩa của ngài:

Phật pháp đến nay đang trên đà xuống dốc. Ngoại đạo lộng hành. Không ngờ có những kẽ vô liêm sĩ, dám giả mạo người xuất gia hay cư sĩ tại gia của Vạn Phật Thánh Thành. Họ lợi dụng danh nghĩa của Vạn Phật Thánh Thành ra ngoài dối gạt, lừa bịp, làm đủ mọi tội ác. Lại giả mạo nói thừa mệnh của bần tăng mà đi khắp nơi hóa duyên, hầu lừa gạt thiên hạ. Nay tôi trân trọng tuyên bố để mọi người cảnh giác, đừng bị những kẻ vô liêm trong Phật giáo lừa gạt. (8)

Cuối năm 1999, ông CE Hằng Trường lại phạm lỗi khác. Trong lễ Yết-ma lần sau vào năm 1999, để sám hối ông ta lại xin nhập thất để học kinh Hoa Nghiêm, nhưng trên đường về lại một chi nhánh của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA) để lấy đồ sang Canada nhập thất thì ông ta đã rời bỏ Chùa và đi về Hawaii ở với người chị. Sang Hawaii vài tháng thì hoàn tục và sau đó xuất gia lại với một vị Hòa Thượng ở Đài Loan. Về sau ông ta trở lại Nam California nhiều lần và đến năm 2001, 2002 thi về hắn California. Chúng tôi đã hy vọng ông ta sẽ sửa đổi và đã chờ một thời gian khá dài để quan sát và biết rõ hơn về đường lối tu hành cua ông ta. Nhận thấy những điều ông ta nói ra có nhiều điều không đúng sự thật và tự đặt ra những phương pháp, cách tu nhảm nhí và thí nghiệm mở Luân Xa khác hẳn đường lối của Hòa Thượng Tuyên Hóa nên đến tháng 2, 2009 Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA) ra thông báo không chịu trách nhiệm về hành vi và ngôn ngữ của ông ta hầu cảnh giác Phật tử.

announcement_2009

Thông Báo

Cách nay nhiều năm, Tỳ Kheo trước đây tên là Heng Chang (Hằng Trường – Chin Er – Thân Nhĩ) và Tỳ Kheo Heng De (Hằng Đức) đã tự ý rời khỏi Vạn Phật Thánh Thành và các đạo tràng chi nhánh của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA) do Hòa Thượng Tuyên Hóa sáng lập. Xin thông báo rằng họ không còn bất cứ liên hệ nào với Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA), họ không được phép đại diện cho Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới dưới bất cứ hình thức nào, và Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới không chịu bất cứ trách nhiệm nào về ngôn ngữ cũng như hành vi của họ.

Hội Ủy Viên Tăng Đoàn Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (9)

Sau đó chúng tôi có dịch bài Phật Sự Trong Mộng từ nguyên bản Mộng Trung Phật Sự và thêm phần ghi chú để độc giả cùng nhận xét kỹ càng hơn. Trong bài đó Hòa Thượng Tuyên Hóa nhắc nhở ông CE Hằng Trường hãy nhận chân ra sự huyễn mộng của thế gian và thân tâm:

Khởi bao thiện Pháp, vốn là huyễn.
Tạo các ác nghiệp, cũng là huyễn.
Thân như đống bọt, tâm như gió.
Huyễn hóa không rễ, không thực tính.

Nếu quý vị nhận ra điều này, thì đừng bao giờ phạm lỗi kiêu ngạo nữa. Lỗi này căn bản là hư huyễn, nhưng sự thật cũng là huyễn. Tại sao quý vị không tìm cái gì chân thật để làm? Tại sao phải làm điều giả, tìm cầu giả danh giả lợi? Thật ra, những việc chúng ta làm hôm nay cũng là huyễn, chúng ta chỉ trong mộng làm Phật sự. Mọi người đều đang trong giấc mộng. Chúng ta mộng thấy chúng ta đến, chúng ta mộng thấy chúng ta đi, nhưng không có gì cố định cả. Không có Pháp cố định. Đây gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Nếu trong giấc mộng chúng ta làm điều đúng thì chúng ta có công đức. Nếu làm điều sai thì tạo nghiệp chướng.” (1)

 

  1. Vấn đề Luân Xa – Mạn Đà La Siêu Độ  – Hướng Dẫn Vãng Sanh bằng đưa năng lượng lên đỉnh đầu

Gần đây trang Thư Viện Hoa Sen http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-98_4-4990_5-50_6-1_17-38_14-1_15-1/ có đưa bài của ông CE Hằng Trường dạy những cách tu gán ghép lấy từ ngoại đạo như đưa năng lượng lên đỉnh đầu:

Nhắc lại những điều chúng ta cần làm để chuẩn bị cho lúc lâm chung:
-bất động
-thư giãn
-làm sao đưa được năng lượng lên đỉnh đầu

Lúc chết, năng lượng dưới xương cùng đi lên tâm luân, năng lượng từ đỉnh đầu cũng dồn xuống tâm luân, sau đó hội tụ vào thành một năng lượng rất nhỏ giống như cái hologram. Giây phút cuối cùng năng lượng này sẽ tụ về 1 trong 7 chỗ, nơi mình có thói quen làm nhiều nhất, làm chỗ đó nóng lên. Sau 7, 8 giờ ta có thể sờ thấy chỗ đó nóng.
Điều quan trọng là khi chết mình có làm chủ được năng lượng đó không? Tu là chuyển hóa được năng lượng mình và có khả năng đưa được năng lượng tới chỗ mình muốn, tức đỉnh đầu.

….

“… Họ làm chủ được chân khí của mình, do đó họ có thể làm chân khí lên đỉnh đầu để mở LX 7. Chân khí họ ngưng tụ mà thông suốt. Họ hoàn toàn không bị sự trói buộc của thân xác. Khí lực họ không ngưng trệ, không bị kẹt.”  

Điều này hoàn toàn khác với lời dạy của Hòa Thượng Tuyên Hóa. Trong Gậy Kim Cang Hét quyển 2, Hòa Thượng chỉ rõ:

Hỏi: Đệ tử luyện tập thiền định, nhưng cứ bị điểm huyền quang giữa chặn lông mày quấy nhiễu nhiều năm. Xin Sư Phụ gia trì cho con.

Đáp: Có điểm huyền quang chạy tới giữa chân mày à? Chấp tướng thi đâu đâu cũng sai, nếu chấp vào vô vi thì lại rớt vào không: ” Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.”  Phàm hễ có tướng thi đều là giả dối. Nếu thấy các tướng mà không chấp tướng tức là thấy Phật. Con cứ ở đó khởi tâm chấp trước, rồi thủ cái huyền quang, thủ cái đan điền, thủ cái này, thủ cái nọ thì đó không phải là pháp cứu cánh đâu; pháp cứu cánh là quét sạch tất cả pháp, rời khỏi tất cả tướng. (10)

Trong bài giảng Kệ Truyền Pháp của Đức Phật Thi Khí, Hòa Thượng Tuyên Hóa nói:

Trong việc tu hành, nếu quý vì có thể thấy thân này là giả và tâm là huyễn, thì lúc đó quý vị sẽ không có chấp trước gì cả. Chúng ta sẽ không có cái ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến; cũng không có tướng tướng mình, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Chỉ vì chúng ta không thấy chúng là không, chúng ta mới có tất cả các thứ đó. Nếu chúng ta có thể xem chúng tất cả đều là không, thì sẽ không còn tướng nào cả, ngay cả cái tự kỷ (ngã) cũng không có. Như vậy làm sao có tướng người, tướng chúng sanh, thọ giả tướng? Tất cả đều là phân biệt do chúng ta tự tạo ra!

Những bài kệ truyền pháp của mỗi vị trong bảy vị Phật đều nhằm phá bỏ sự chấp trước về thân và tâm của chúng ta. Nếu chúng ta không có sự bám chấp vào thân và tâm thì chúng ta có thể hiểu được Phật pháp.

Dầu quý vì có đọc bao nhiêu Kinh đi nữa, dầu niệm danh hiệu Phật nhiêu bao nhiêu lần đi nữa, hoặc dầu lạy Phật nhiều bao nhiêu đi nữa, nếu quý vị vẫn còn bám chấp vào túi da hôi thối này, thì quý vị không hiểu được Phật pháp. Do đó, trong việc học Phật pháp, quý vị nên học điều căn bản. Đừng chú trọng trên bề mặt như là cầu Phật gia hộ. Đức Phật sẽ không bảo hộ quý vị! Quý vị phải tự mình bảo hộ lấy mình. Nếu quý vị lạy Phật, tin Phật, và niệm danh hiệu Phật thì dầu quý vị không có được cảm ứng nào cả, quý vị cũng đang được bảo hộ; bởi vì những hạt giống thiện lành sẽ không bị hư hoại đi, và những hạt giống xấu ác sẽ không nẩy mầm tăng trưởng. Vì vậy, khi chúng ta học Phật , nếu chúng ta không nắm được các đạo lý căn bản của Phật giáo, chúng ta vẫn thấy thân và tâm đều có thật, thì chúng ta vẫn không hiểu Phật pháp. (11)

Hòa Thượng Tuyên Hóa đã dạy cách tu Vãng Sanh rất rõ ràng là nhất tâm niệm Phật:

Trước đây tôi có viết một bài kệ:

Niệm Phật niệm hoài không gián đoạn,
Hồng danh đồng khởi tại tâm can,
Tạp niệm không sanh Tam-muội được,
Vãng sanh Tịnh độ có phần sang,
Trọn ngày chán nản Ta Bà khổ,
Tâm niệm hồng trần dứt sạch quang,
Cầu sanh Cực Lạc luôn trong ý,
Nhiễm niệm dứt trừ, Tịnh niệm toàn.

Ðây là tu tập pháp môn niệm Phật Tam-muội thì chắc chắn có hy vọng vãng sanh Tây phương Cực Lạc. Ðã dứt hết lòng trần của thế gian, không còn có tâm dâm dục, cũng không có tâm tranh danh đoạt lợi, tất cả tâm duyên bên ngoài thế giới này đều buông bỏ hết, xem tất cả đều là giả dối, buông bỏ nhiễm tâm quay về Tịnh độ, bài kệ này chính là thuyết minh đạo lý niệm Phật đấy. Trì danh niệm Phật giống như là cầm một vật gì, phải luôn cầm chắc trong tay mới được. Cho nên mỗi ngày đều phải niệm “Nam mô A Di Ðà Phật” để xua đuổi những tạp niệm của chính mình. Niệm Phật là pháp môn lấy độc trị độc, vọng tưởng là một thứ độc, trì danh niệm Phật cũng là một thứ vọng tưởng. Ðó là lấy vọng tưởng để ngăn vọng tưởng, cũng giống như trong quốc gia dùng binh lính để ngăn binh lính, dùng chiến tranh để dứt chiến tranh. Nếu muốn diệt hết vọng tưởng thì phải thường niệm Phật. Khi vọng tưởng diệt hết thì sẽ đạt được niệm Phật Tam-muội. Ðây là lớp thứ ba “Trì danh làm tông” trong năm lớp huyền nghĩa. (12)

Qua đó chúng ta thấy cốt tủy Vãng Sanh là: Ðã dứt hết lòng trần của thế gian, không còn có tâm dâm dục, cũng không có tâm tranh danh đoạt lợi, tất cả tâm duyên bên ngoài thế giới này đều buông bỏ hết, xem tất cả đều là giả dối, buông bỏ nhiễm tâm quay về Tịnh độ. Chứ không phải là: Tu là chuyển hóa được năng lượng mình và có khả năng đưa được năng lượng tới chỗ mình muốn, tức đỉnh đầu.

Chúng tôi không nghĩ là ông CE Hằng Trường hiểu rõ Luân Xa và đã mở Luân Xa. Trong Phật Giáo không quan tâm về luân xa, luân xa chỉ là huyễn. Điều quan trọng của việc tu hành là thấy rõ thế gian vô thường huyễn mộng, chân thành sám hối nghiệp chướng, sửa đổi thói xấu, tu đạo đức, dứt lòng trần, phát Bồ Đề Tâm … Trong Ấn Độ Giáo tuy ngoại đạo nhưng họ rất đặt nặng vấn đề chân thật. Họ cũng tu tìm cách mở Luân Xa mong cầu hội nhập với Đại Ngã, với Phạm Thiên. Đức Phật sinh ra và lớn lên trong lòng Ấn Độ Giáo nhưng ngài đã gạt bỏ tất cả những khái niệm tu sai lầm này, và trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm Đức Phật đã nói rõ những ma cảnh nếu chấp vào cảnh giới. Trong khi đó ông CE Hằng Trường lại tìm cách đưa chúng vào trong Phật Giáo dù bản thân ông ta cũng chẳng hiểu Luân Xa như thế nào vì thiếu chân thật thì làm sao thế nhập được! Những người tu càng giữ giới thì càng thâm nhập Kinh Điển; càng chân thật thì càng có trí huệ, có trạch Pháp nhãn để thấy rõ và xa lánh tà Pháp. Trong khi đó ông CE Hằng Trường lại đem những khái niệm mà chư Phật Tổ xem là rác rưởi để làm Phật tử tham cầu!

Trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn Lược Giảng, Hòa Thượng Tuyên Hóa nói về những người thích hư danh cùng những cách quảng cáo khá giống cách của ông CE Hằng Trường :

Hoặc ưa thích hư danh: Hoặc là mong muốn kẻ khác đi khắp nơi thay mình tuyên truyền : “Thầy đó thật là lão tu hành ! Thật là vị đại tu hành a ! Thật là tốt a ! Như thế a ! ……”. Phái rất nhiều thủ hạ, rất nhiều nhân viên đi khắp nơi tuyên truyền. Giống như “xí nghiệp hóa Phật giáo ” chăng? Ðây chính là tội nhân trong Phật giáo, kẻ bại loại trong Phật giáo ! Phật giáo làm sao xí nghiệp hóa được ? Muốn xí nghiệp hóa thì ra khỏi nhà (xuất gia) gì ? Ở nhà cũng có thể làm xí nghiệp, ai cũng đều có thể buôn bán kiếm tiền. Tại sao người xuất gia, Phật giáo đồ lại làm xí nghiệp? Người thường còn nói : “Ai da ! Xí nghiệp hóa Phật giáo, hay a ! được a !…..”. Ði về hướng địa ngục mà còn không biết ! Lại còn cho rằng hay, rằng tốt ! Ðó chính là cầu mong lợi dưỡng, cứ mãi kêu người đưa tiền cho mình, “Ô ! Ta làm cái này …, làm cái này …”. Thật là tham cái danh vọng hão
huyền. (13)

Tháng 12 vừa qua, ông ta tổ chức Đại Hội Quán Âm với những lời hứa hẹn nhắm vào lòng tham cầu của Phật tử:

    * Chúng ta chính thức cung thỉnh chư Phật bồ tát tới tham dự và chỉ đạo ngay từ bước tổ chức, chứ không chờ tới ngày làm lễ chính thức, hôm 17, 18 và 19 tháng 12. Thật vậy, vì chúng ta xem Phật bồ tát là những thực tại sống động, do đó mình mời các ngài cùng tham dự trong giai đoạn chuẩn bị này. Đây là một đặc sắc của đại hội kỳ này.

    * Chúng ta lại thỉnh cầu đức Phật A Di Đà hãy phóng quang gia bị ngay bây giờ. Rằng, hào quang, linh tánh và tinh thần của ngài sẽ hiện khởi (embody) trong tôn tượng bằng lưu ly, sao cho những ai thấy được tượng thì sẽ hấp thu và tiếp nhận được phước lành của đức Di Đà. Nhất là nếu những vong linh nào hữu duyên, thấy tôn tượng Di Đà này thì sẽ tức tốc vãng sinh cõi Cực Lạc. Tôn tượng Phật Di Đà bằng lưu ly này sẽ được an vị ngay tại trung ương đàn tràng mạn đà la Siêu Độ trong kỳ đại hội này đó.

    * Chúng ta thỉnh cầu rằng đức Di Đà phóng hào quang khiến tất cả mọi người tham dự đều được đại lợi, cả kẻ dương, người âm. Nếu ai bịnh nặng thì nghiệp chướng tiêu trừ, bịnh hoạn chóng lành; ai gặp khó gặp nạn, sẽ vượt khó, hết nạn; ai mất việc sẽ tìm được việc; ai có việc tốt muốn làm, sẽ làm thành tựu; ai trong âm giới muốn thoát khổ, sẽ thăng xuất về cõi Tịnh Độ.

Nhưng chư Phật biết rõ tâm niệm chúng sanh, không ai có thể dối gạt được chư Phật, chư Bồ Tát. Những hiện tượng thời tiết xấu chưa từng có trong mười năm qua và nhiều tai nạn trong vùng vào những ngày đó (14) cho thấy chư Phật, chư Bồ Tát đã không đến như ông ta quảng cáo.

Trong quyển Thí Luận của ông Trần Do Bân đề cập:

… Hòa Thượng cũng có vì chúng sanh mà làm những buổi lễ siêu độ vong linh, nhưng Hòa Thượng chỉ nói một cách rất khiêm tốn rằng:

“Suốt đời tôi, tôi không bao giờ muốn tham gia việc chạy theo các lễ hội ‘tụng kinh, sám hối, Phóng Diệm Khẩu, Thủy Lục Không,’ bởi tôi không đủ đức hạnh–đạo không đủ để cảm động người, đức không đủ để giáo hóa người. Chính mình còn chưa siêu độ được mình, thì làm sao có thể đi siêu độ các vong hồn? Cho nên, tôi không dám ‘to gan’ đến thế!”

… “Không nóng giận, không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi và không nói dối – hãy làm một con người tốt, không làm các điều ác, chỉ làm những việc lành; thì cha mẹ và tổ tiên của quý vị tự nhiên sẽ được siêu độ. (15)

Tai Vạn Phật Thánh Thành, không bao giờ đề cập tu mở Luân Xa, làm Mạn Đà La Siêu Độ với hứa hẹn Phật A Di Đà sẽ đến, không đề cập mời Phật A Di Đà nhập vào tượng để ai thấy tượng thì tức tốc vãng sanh! Nếu làm được như vậy thì chư Phật với lòng Đại Bi đã làm cho thế giới Hòa Bình và giúp mọi chúng sanh vãng sanh rồi, khỏi nhọc công chư Phật, chư Bồ Tát phải giáo hóa chúng sanh qua vô số kiếp!

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn – Phẩm Nghi Vấn, Lục Tổ đã giảng:

Sử quân, nếu làm mười điều thiện, thì cần gì phát nguyện vãng sanh! Còn nếu chẳng dứt lòng cưu mang mười điều ác, thì Phật nào tới rước mình! Nếu hiểu rõ vô sanh đốn pháp, thì trong một sát-na ắt thấy cõi Tây phương. Bằng chẳng hiểu rõ pháp ấy, mà cứ niệm Phật cầu vãng sanh, thì đường xa vời vợi, thế nào mà đi đặng tới cõi ấy! (16)

Biết tâm lý chúng sanh luôn mong cầu đường tu tắt, mong cầu phép lạ, thần thông … nên Hòa Thượng Tuyên Hóa đã căn dặn:

Ngoại đạo gồm tất cả thiên ma ở các cõi trời, có đủ thần thông, thiên biến vạn hóa, kỳ bí khôn lường. Chúng ma luôn luôn khai triển thần thông. Trái lại đệ tử của Phật không thể hiện thần thông. Nếu có thì họ cũng không nói cho ai biết. Kẻ nào khoe mình có thần thông, thiên nhĩ thiên nhãn v.v… đều là thuộc loại tà ma được nói đến trong chương “Cảnh giới 50 ấm ma” của Kinh Lăng Nghiêm, hoặc giả họ là đồ đệ của thiên ma, hay là đồ đệ của ngoại đạo. (17)

Trong bài Không Nên Tuỳ Tiện Hiện Thần Thông trong quyển Khai Thị 6, Hòa Thượng Tuyên Hóa còn nhấn mạnh hơn nữa:

Gặp bất kỳ hoàn cảnh nào, người tu hành cũng không bao giờ được tự mãn, kiêu ngạo, cho rằng mình phi thường. Hãy thật cẩn trọng để không phạm phải sai lầm nào về lý nhân quả. Bằng không, hậu quả sẽ thật khó lường.

Người tu hành chủ yếu là tu giới thanh tịnh, tức là ba nghiệp thân, khẩu, ý đều nên thanh tịnh. Người có thần thông, tuyệt đối không được nói là mình có thần thông; hà huống mình vốn không có thần thông mà lại dám nói dối, há đó không phải là tạo nhân đọa địa ngục sao? (18)

Trong quyển Thí Luận của ông Trần Do Bân chỉ rõ:

– Vị Thầy dùng thần thông và các điều kỳ dị làm “công cụ” để thu hút những chúng sanh có lòng hiếu kỳ; đó là tà.

– Vị Thầy tự ý thêm bớt, sửa đổi các quả vị tu hành trong Phật Giáo và giải thích lệch lạc ý nghĩa của “tín, giải, tu, chứng,” còn tự cho mình là giáo chủ; đó là tà.

– Vị Thầy tự lập ra tông phái rồi tự xưng là giáo chủ mà chính mình lại không có căn bản chân thật về đạo lý Phật Giáo; đó là tà. (15)

 

Trong Kinh Pháp Hoa Lược Giảng – Phẩm Thí Dụ, Hòa Thượng Tuyên Hóa đã nói rất rõ về Phạm Hạnh Thanh Tịnh của người tu hành chân chánh:

Bồ-tát kỳ cựu này ở nơi vô lượng vô biên, trăm nghìn muôn ức Phật, từng tu phạm hạnh thanh tịnh. Tịnh là thanh tịnh; tịnh khiết, không dính một hạt bụi nào, đây gọi là thanh tịnh. Đoạn dứt muôn dòng suy nghĩ, chẳng nghĩ ngợi điều gì cả, đó mới thật là thanh tịnh.

Lại có điều gì gọi là thanh tịnh nữa không? Tôi sẽ nói cho quý vị biết một điều thanh tịnh rất triệt để, nếu quý vị muốn thật thanh tịnh thì phải đoạn tuyệt quan hệ với “tiền”. Quý vị có tiền thì không thanh tịnh; không có tiền thế mới là rất thanh tịnh! Tiền là thứ rất dơ bẩn, tuy rất dơ bẩn, nhưng mọi người đều giữ gìn nó như là bảo bối. Có người, khi đếm tiền thì dùng đầu ngón tay để vào miệng cho thấm một chút nước bọt, sau đó đếm đi đếm lại. Quý vị xem có dơ bẩn không? Vi khuẩn gây bệnh có rất nhiều trên tiền, nhưng mọi người vẫn không sợ, lại đem nó để vào túi, cho là càng nhiều càng tốt! Con người thì bằng lòng không thanh tịnh, đồ không thanh tịnh lại nắm chắc như là bảo bối.

Tịnh tu phạm hạnh thì phải không có tiền. Có người nói, tôi làm không được! Đương nhiên quý vị làm không được rồi! Nếu quý vị làm được thì quý vị là Bồ-tát rồi; quý vị làm không được cho nên mới không phải là Bồ-tát. Việc này rất đơn giản!

Hòa Thượng Tuyên Hóa luôn nhắc nhở đệ tử : Chân nhân bất lộ tướng, lộ tướng phi chân nhân (Người chân chánh chứng đắc không lộ hình tướng mình chứng đắc, kẻ biểu lộ chứng đắc không phải là người chân chánh chứng đắc).

Hòa Thượng Tuyên Hóa đã nêu lên sự tai hại của việc tách rời Tăng Đoàn:

“Người xuất gia sống một mình một chùa, xưng vương xưng bá, làm vua một cõi. Người tại gia do thiếu ‘Trạch Pháp Nhãn’ nên đi theo hộ Pháp cho họ, hộ tới hộ lui, và hộ luôn xuống địa ngục! Vào thời kỳ Chánh Pháp, tất cả đại chúng đều sống chung trong một đại tùng lâm của chùa, và cùng nhau dụng công tu Đạo. Song, vào thời kỳ Mạt Pháp, người ta lại không thích nếp sống của đại tùng lâm nữa. Mỗi người ở một chùa riêng – ông theo cách của ông, tôi theo cách của tôi – khiến cho người tại gia trở nên hoang mang, bối rối. Họ thấy ông sư nầy tướng mạo trông đẹp đẽ bèn hộ pháp cho ông ta, xây chùa riêng cho ông ta trụ trì. Rồi sau đó lại thấy một vị sư khác cũng không tệ lắm, họ lại xây cho vị đó một ngôi chùa nữa. Hộ tới hộ lui, rốt cuộc là làm cho những người xuất gia sanh lòng tham danh hám lợi đến nỗi phải hoàn tục!” (15)

Do đó người xưa có câu: “Hổ ly sơn hổ bại, Tăng ly chúng Tăng tàn”! Chính Tăng Đoàn tạo duyên tu tập thanh tịnh giúp giữ gìn giới luật.

Ngoài những điểm trên, như anh và quý Phật tử thấy, những người cùng tu tại Vạn Phật Thánh Thành với ông ta biết ông ta khá rõ nên đã gần mười năm qua mà không ai theo ông ta ngoại trừ ông Hằng Đức người Mã Lai, có lẽ cũng không rõ ông CE Hằng Trường nói những gì với Phật tử VN. Ngay cả những tăng ni Việt Nam tại Vạn Phật Thánh Thành không người nào theo, qua những năm sống và tu chung mọi người đều biết rõ nhau và họ đã chỉ nhìn những gì ông ta làm hơn là nghe những gì ông ta nói. Ông ta đưa vấn đề bị gọi là “thằng Việt Nam” nhằm dùng sự kỳ thị để bào chữa cho mình và khơi lòng tự ái dân tộc của người Việt. Đây là một thủ đoạn thiếu trung thật! Đúng như câu trong Đại Sự Ký: “luôn đóng vai luật sư biện hộ để chạy tội cho chính mình, lại quen dùng khổ nhục kế để chuyển hướng vấn đề hầu phân tán sự chú ý mọi người, lại còn tranh thủ sự đồng tình của ai không rõ tự sự.” (2)

Ông ta nói rất hay về Tri Hành Hợp Nhất, Từ Bi … nhưng thật sự hình như Tri và Hành của ông ta khác nhau; đề cao từ bi, nhân quả, nhưng lại xảo quyệt dối gạt chúng sanh. Hòa Thượng đã nêu lên sự khác biệt giữa trí huệ thế gian và trí huệ xuất thế gian:

Lại nữa, ông nên phân minh cái trí huệ thế gian và trí huệ xuất thế gian. Trí huệ thế gian nghĩa là Thế Trí Biện Thông (một trong tám nạn). Họ khéo léo nói năng, xảo ngôn, biện luận; điều không có lẽ phải, nhưng họ nói nghe rất là có lẽ phải. Người mê ám nghe họ nói liền cho rằng: “Ồ! Họ nói rất có lý, điều họ nói rất đúng”. Kỳ thật, nếu ông có trí huệ chơn chính thì không thể chấp nhận sự ngu lộng, ngụy càn, xảo ngôn của họ, không bị đạo lý ngu mê của họ khiến ông trở nên ngu mê. Ðây gọi là “trong dương có âm” (dương trung hữu âm), trong trí huệ có ngu si. Nhưng, ngược lại thì “trong âm cũng có dương” trong ngu si cũng có trí huệ. Giống như có những người rất ít nói, trông có vẻ rất bình thường, nhưng họ làm việc gì cũng đều chánh đáng cả. Thấy họ rất chậm lụt buồn cười, nhưng họ làm gì xét ra cũng đều hợp lý hợp đạo. Vì vậy, xem xét người khác chính là xem mình có hay không có trí huệ. Nếu mình có trí huệ thì không bị người dẫn đưa vào trong ngu si. Nếu không có trí huệ thì sẽ bị người dẫn đưa vào trong sự ngu si, càn quấy của họ. Trí huệ là như thế mà đối với những việc khác thì cũng vậy!

Trong Gậy Kim Cang Hét quyển 1 có những đoạn vấn đáp giữa Phật tử và Hòa Thượng Tuyên Hóa có thể giúp chúng ta hiểu rõ thêm về việc tu hành:

  1. Hỏi: Làm thế nào để ủng hộ Phật giáo?

Đáp: Để ủng hộ Phật giáo, quý vị nên lặng lẽ quán sát. Nếu là đạo thì nên tiến tới, còn không là đạo thì hãy thoái lui. Quý vị nên suy nghĩ cho chính chắn, vì có khi quý vị xuất tiền của là tạo công đức, có lúc xuất tiền của thì lại tạo tội. Người xuất gia không được có tiền của, một khi có tiền thì họ sẽ không giữ qui luật. Quý vị mà giúp họ, họ sẽ tha hồ ăn uống, điếm đàng, bài bạc. Được nhiều tiền thì họ sẽ hoàn tục. Nếu quý vị không giúp họ, thì họ còn tiếp tục tu hành. Nhất là khi chỉ có một người xuất gia sống đơn độc, thì chỉ cần có đủ ăn là được rồi.

  1. Hỏi: Xin hỏi chúng con phải hội đủ những tư cách nào mới có thể làm đệ tử của Ngài?

Đáp: Là phải tự sửa đổi mình.

  1. Hỏi: Xin hỏi, người sơ phát tâm nên học Phật pháp như thế nào? Làm sao để lựa chọn đạo tràng và thiện tri thức để tu học và làm sao phán đoán, đó có phải là chánh pháp hay không?

Đáp: Đây không có phương pháp gì cả. Quý vị tự mình phải có con mắt trạch pháp nhãn. Nếu là pháp thật quý vị không nên xem đó là giả, còn nếu là giả thì cũng không nên cho đó là thật. Như vậy là đủ rồi. (19)

Thư đã khá dài nhằm trình bày chia sẻ cùng anh và quý Phật tử, đây là những điều đau lòng khó nói nên lời nhưng nhìn thấy sự cố tình gian dối, Thầy chúng tôi bị đổ lỗi oan, Giáo Pháp của Thầy Tổ bị bóp méo, chúng sanh bị dối gạt nên không thể không nói ra. Có thể có những điều không chính xác mong anh và quý Phật tử bổ khuyết cho.

Ngoài ra mong anh và các Phật tử đừng quá bận tâm, Hoà Thượng có nói về ông CE Hằng Trường là “Hằng Trường, ông ta cũng không lâu dài.” (恆長,他也不長了 (5)), nên nay đã có nhiều người như anh và nhiều Phật tử khác đã nhận ra được sự thiếu chân thật của ông ta.

Nguyện cầu ông CE Hằng Trường sớm tỉnh ngộ thấy thế gian này là huyễn mộng để đừng thiếu chân thật với mình và với chúng sanh. Cầu mong ông ta hướng về con đường tu hành chân thật.

Nguyện cầu chúng sanh có đầy đủ trạch pháp nhãn (20) không hướng ngoại truy cầu, sớm thành Phật Đạo.

Nam Mô A Di Đà Phật

Chú Thích: 

(1) http://www.dharmasite.net/PhatSuTrongMong.htm

(2) http://www.dharmasite.net/VanPhatThanhThanhDaiSuKy.htm

(3) http://www.dharmasite.net/KhaiThi6_phan2.htm#82

(4) http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiemLuocGiang_PhamHienThu_1.htm

(5) Nguyên văn câu Hòa Thượng nói: 他們太跋扈,他們的行為就是欺師滅祖。Tạm dịch: Họ quá ương ngạnh, hành vi của họ chính là khinh Thầy, diệt Tổ.  http://www.drbachinese.org/vbs/publish/262/vbs262p014c.htm

(6) http://www.dharmasite.net/ViSaoTungDocNgayAnMotBuaLuonMacAoGioi.htm

(7) Phương pháp “mặc tẫn” để đối phó với các Tỳ Kheo tánh ác:

Khi Đức Phật sắp nhập Niết-bàn, Ngài A-nan đưa ra bốn điều này hỏi Phật:

1. Khi kết tập kinh điển, mở đầu văn kinh nên dùng chữ gì làm tiêu biểu cho tất cả kinh tạng?
2. Khi Phật ở tại thế, Phật là thầy của chúng con, khi Phật nhập Niết-bàn rồi chúng con tôn ai là thầy?
3. Khi Phật ở tại thế, chúng con ở cùng với Phật, khi Phật nhập Niết-bàn rồi chúng con nên ở với ai?
4. Khi Phật ở tại thế, các Tỳ-kheo xấu do Phật điều phục họ, khi Phật nhập Niết-bàn rồi, chúng con làm cách nào điều phục họ?

Khi ấy, Ðức Phật trả lời rằng:

– Thứ nhất, khi kết tập kinh tạng, hãy dùng bốn chữ “Tôi nghe như vầy” (Như thị ngã văn) để mở đầu cho tất cả các bộ kinh;

– Thứ hai, hãy nương theo Tứ Niệm Xứ mà an trú. Tứ Niệm Xứ chính là Thân, Thọ, Tâm và Pháp – quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã;

– Thứ ba, khi Phật còn tại thế thì Ðức Phật là Thầy; Phật nhập Niết Bàn rồi thì lấy Ba La Ðề Mộc Xoa (Giới) làm Thầy – đây là Thầy của tất cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni;

– Thứ tư, hãy dùng phương pháp “mặc tẫn” để đối phó với các Tỳ Kheo tánh ác.

(Kinh Địa Tạng Lược Giảng)

(8) http://www.chuavanphat.org/attention.htm

(9) http://www.dharmasite.net/Thong_Bao.htm

(10) Gậy Kim Cang Hét quyển 2, trang 152-153

(11) http://www.dharmasite.net/KeTruyenPhapCuaDucPhatThiKhi.htm

(12) http://www.dharmasite.net/KinhADiDaLuocGiang.htm

(13) http://www.dharmasite.net/TuongTrangCuaTam.htm

(14) LA Daily News Rains cited as a factor in 264 crashes from 5 to 9 a.m. Saturday, up from 48.

December 19, 2010 – The first wave of what could be the biggest series of storms in a decade walloped the region Saturday, with more rain forecast today and the San Fernando Valley and surrounding foothills facing a flash flood watch.

http://losangeles.pointslocal.com/news/2010/12/19/losangeles/90604/rains-cited-as-a-factor-in-264-crashes-from-5-to-9-a-m-saturday-up-from-48-#

(15) Thí Luận:  http://www.dharmasite.net/thiluan.htm

(16) Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giảng – Phẩm Nghi Vấn http://www.dharmasite.net/KPBDLGP3.htm

(17) Ý Nghĩa Chân Chánh Của Quy Y http://www.dharmasite.net/QuyY.htm

(18) Khai Thị 6 http://www.dharmasite.net/KhaiThi6.htm

(19) Gậy Kim Cang Hét quyển 1: http://www.dharmasite.net/GayKimCangHet1.htm

(20) Tu đạo Phải Học Pháp Cơ Bản http://www.dharmasite.net/khaithi4.htm#53

Có cách gì để phân biệt hạng tà tri tà kiến? Có sáu tiêu chuẩn sau đây:

  1. Trước hết thử xem người nào đó có tâm tranh danh tranh lợi hay không. Dụng công cho danh lợi, lại tham tài tham sắc, tham lam không biết chán.
  2. Ðể ý xem họ có tự “đánh bóng” cho họ không? Họ có tự mình xưng tán không? khoa trương mình không?
  3. Họ có hạ giá người khác để đề cao thân phận của họ không? Ðối với những hạng này, chẳng cần hỏi cũng biết, nhất định là hạng tà tri tà kiến.
  4. Lại xét xem họ có tham cầu gì không? Nói về người xuất gia thì mỗi ngày ăn một bữa, nhưng cũng có người không theo quy điều này, tự động đến tiệm để mua thức ăn. Người đó đương có dục niệm về ăn, vậy dục niệm về sắc chắc cũng không bỏ được. Cứ nghĩ cũng biết, những hành động đó đều là vị kỷ. Nói chung, phàm là vị kỷ tức đã có sự tham cầu.
  5. Sau đó thử xem họ có tâm tự tư tự lợi không?
  6. Xem thử họ có thích nói dối không? Nếu có, họ thuộc về hạng tà tri tà kiến, không còn nghi ngờ gì nữa.

Lấy sáu tiêu chuẩn trên để trắc nghiệm có thể biết người nào đó có chánh tri chánh kiến, hay thuộc hạng tà tri tà kiến. Nói tóm lại, nếu hết thảy mọi thứ đều kéo về cho riêng mình, thì đó là hạng tà tri tà kiến. Nếu hết thảy đều vì hạnh phúc của đại chúng thì người đó có chánh tri và chánh kiến.

Muốn nhận ra thật minh bạch sáu điều kiện này, thì phải có con mắt trí huệ biết trạch pháp. Do định mà trí huệ phát sanh, có trí huệ rồi mới tin chân lý. Hợp chân lý thì theo, không hợp chân lý thì vô luận người nói đó là ai cũng không đáng tin. Có câu: “Thị đạo tắc tiến, phi đạo tắc thoái.” Chớ nên theo mù quáng, chớ nên tu mù quáng, nếu không chẳng những không có ích mà còn có hại.