Thử Luận Về Những Cống Hiến Của Hòa Thượng Tuyên Hóa Đối Với Nền Phật Học

/, Pháp Thoại, Phật Pháp, Tin Tức/Thử Luận Về Những Cống Hiến Của Hòa Thượng Tuyên Hóa Đối Với Nền Phật Học

Thử Luận Về Những Cống Hiến Của Hòa Thượng Tuyên Hóa Đối Với Nền Phật Học

Chinese | English | Vietnamese

Th Luận Về Những Cống Hiến Của Hòa Thượng Tuyên Hóa Đối Với Nền Phật Học

試 論 宣 化 老 和 尚 的 佛 學 貢 獻

Trần Do Bân 

Dịch từ nguyên bản Hoa Ngữ : Thí Luận Tuyên Hóa Lão Hòa Thượng Đích Phật Học Cống Hiến đăng trên nguyệt san Vajra Bodhi Sea  từ số tháng 6, 1996 đến số tháng 10, 1997 của Cư Sĩ Trần Do Bân

Mục Lục:

Chương Thứ Nhất: Lời Giới Thiệu

Phần 1: Động Cơ Nghiên Cứu
Phần 2: Chọn Lựa Tài Liệu
Phần 3: Phương Pháp Nghiên Cứu và Mục Tiêu Dự Định
Phần 4: Tóm Tắt Toàn Bộ Luận Án 
Phần 5: Sơ Lược Tiểu Sử Hòa Thượng Tuyên Hóa

Chương Thứ Hai: Chánh Pháp

Phần 1: Chánh Pháp và Mạt Pháp
Phần 2: Anh Linh và Sự Siêu Độ
Phần 3: Chay Thuần Khiết và Chay Giả Mặn
Phần 4: Khí Công và Tà, Chánh
Phần 5: Quy Y và Phong Bì Đỏ
Phần 6: Luôn Mặc Áo Giới và Ăn Ngày Một Bữa

Chương Thứ Ba: Giảng Kinh
Chương Thứ Tư: Lão Tử và Trang Tử
Chương Thứ Năm: Sanh Tử
Chương Thứ Sáu: Bát Nhã
Chương Thứ Bảy: Thần Dị
Chương Thứ Tám: Viên Tịch
Chương Thứ Chín: Kết Luận

 

 

 

Chương Thứ Nhất: Lời Giới Thiệu

Phần 1: Động Cơ Nghiên Cứu

 

Từ năm 1989 khi tôi quy y với Hòa Thượng Tuyên Hóa và trong suốt sáu năm kế tiếp, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng Hòa Thượng sẽ rời bỏ cõi Ta Bà này sớm như vậy. Phải chăng do chúng sanh chúng ta bạc phước cho nên Đại Sư Ấn Quang, Đại Sư Hoằng Nhất, Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân, Đại Lão Hòa Thượng Quảng Khâm, cùng nhiều bậc cao tăng đã theo nhau viên tịch, và luôn cả người mà Lão Hòa Thượng Hư Vân đích thân trao truyền Pháp mạch là ngài Tuyên Hóa cũng chẳng nán lại lâu hơn nữa? Điều này khiến cho tôi không khỏi không ngớt ngậm ngùi thương tiếc.

Những người đã biết Hòa Thượng đều biết rằng Ngài suốt đời nghiêm trì hạnh nguyện “giữa ngày ăn một bữa, tối ngủ không nằm” và thực hành Sáu Đại Tông Chỉ. Đặc biệt trong thời Mạt Pháp nhiễu nhương, Hòa Thượng lại càng là biểu hiệu vững chắc của Chánh Pháp, và là ánh sáng soi đường cho chúng sanh. Hòa Thượng không sợ sự hủy báng của loài ma – đến đâu Ngài cũng xiển dương Kinh Lăng Nghiêm, tuyên giảng Chánh Pháp, phá tà hiển chánh. Sau khi Hòa Thượng  nhập Niết Bàn, tôi muốn tổng hợp và quy nạp những lời nói và việc làm, cũng như những điều không nói và không làm trong suốt cuộc đời của Ngài, mục đích là để cho người đời nhân đó mà có được “Trạch Pháp Nhãn”, có thể phân biệt tà chánh, đúng sai. Chỉ bằng cách đó chúng ta mới có thể ngăn chặn đà suy vi của Phật Giáo, giữ cho Phật Giáo khỏi bị nhận chìm bởi tà thuyết của ngoại đạo. Tôi tin rằng tất cả các Phật tử đều không muốn thấy chuyện đó xảy ra.

Những cống hiến trong suốt cuộc đời của Hòa Thượng cho nền Phật Học đã được các đệ tử của Ngài sưu tập rất chi tiết, đặc biệt là trong bộ kỷ yếu Tuyên Hóa Lão Hòa Thượng Truy Tư Kỷ Niệm Chuyên Tập quyển I và II mới xuất bản gần đây nhất. Những tập sách này, nói chung, đã giới thiệu quan điểm của Ngài về vấn đề giáo dục, phiên dịch kinh điển, hoằng dương Phật Pháp, chế độ Tăng Già, tinh thần yêu nước yêu dân, luân lý đạo đức, đoàn kết Đại Thừa và Tiểu Thừa, dung hợp tất cả các tôn giáo, v. v…một cách tường tận; do đó ở đây sẽ không tra cứu bình luận lại nữa. Trọng tâm nghiên cứu của văn bản này là những lời dạy của Hòa Thượng về như thế nào mới là chánh tín chân chánh của Phật Giáo, thế nào mới là Chánh Pháp, cùng các chứng cớ đằng sau những lời giảng giải kinh điển của Ngài. Đó chính là động cơ nghiên cứu của văn bản này.

 

Phần 2: Chọn Lựa Tài Liệu

 

Các tài liệu dùng trong văn bản nầy chủ yếu lấy từ các sách do Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới tại Hoa Kỳ phát hành; cũng như từ nguyệt san của Vạn Phật Thánh Thành (Kim Cang Bồ Đề Hải – Vajra Bodhi Sea), nguyệt san Trí Huệ Chi Nguyên xuất bản tại Cao Hùng, Đài Loan; các bài khai thị từ các băng ghi âm và các sách báo, tạp chí, bài tường thuật trong các chuyến hoằng pháp ở Đông Nam Á; nhiều bản tin từ các tập san hay báo chí; các bài nói chuyện của đệ tử của Hòa Thượng; các Pháp ngữ khai thị của lịch đại Tổ Sư; và các cảm ứng do tín chúng kể lại.

Về nội dung khai thị của Hòa Thượng, ngoại trừ những trường hợp quan trọng, có tính cách đặc thù, tôi mới ghi chú xuất xứ và thời điểm; còn lại thì đều có thể tìm thấy trong các sách và băng ghi âm do Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới phát hành.

 

Phần 3: Phương Pháp Nghiên Cứu và Mục Tiêu Dự Định

 

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong luận án này là lấy tất cả lời giảng từ sách và băng ghi âm khai thị của Hòa Thượng lúc sanh thời làm chuẩn, thêm vào đó là các lời giảng giải của Ngài về kinh điển cũng như về hành trạng của lịch đại Tổ Sư, nhằm phán đoán các vấn đề Phật Học một cách khách quan; rồi tiến tới tìm hiểu cách nhìn và khai thị của Ngài đối với Phật Học.

Chúng ta đều biết rằng phần nhiều nội dung khai thị của Hòa Thượng là nhằm dùng phương tiện để hóa độ các đệ tử người Hoa Kỳ vào một thời điểm nào đó, bao gồm các vấn đề như thọ trì giới không giữ tiền hoặc không đụng đến tiền bạc (trì ngân tiền giới), ăn ngày một bữa, không sát sanh, không phá thai, không đốt giấy vàng bạc, giáo dục nam nữ, v.v…

Hòa Thượng đã vượt hàng ngàn dặm để mang Phật Pháp đến Hoa Kỳ, với hy vọng lập nên một chế độ “Phật Giáo như Pháp”. Vì lý do đó, lắm lúc những lời khai thị của Ngài nghe có vẻ “lạnh lùng, không tình cảm,” thậm chí có đôi khi khiến người ta không chấp nhận được và nghĩ rằng Ngài chỉ một mực phê bình người khác; mà không chịu hiểu là Ngài đã tốn biết bao tâm huyết để giáo hoá các chúng sanh cang cường, căn cơ hạ liệt, và đằng sau những lời lẽ nghiêm khắc đó của Ngài ẩn giấu biết bao “máu và nước mắt”!

Hòa Thượng đã từng nói:

“Tôi đến đây là để chuẩn bị giáo hóa người Hoa Kỳ. Đối tượng giáo hóa của tôi là người Hoa Kỳ, không phải người Trung Hoa. Người Trung Hoa chỉ là phụ thôi.

Muốn tôi lên trời, cũng chẳng khó;
giáo hóa người Hoa Kỳ mới là khó nhất.

 

Muốn tôi chui xuống đất, cũng chẳng khó;
giáo hóa người Hoa Kỳ mới là khó nhất.

 

Muốn gà trống đẻ trứng, cũng chẳng khó;
giáo hóa người Hoa Kỳ mới là khó nhất!

Từ đó chúng ta có thể nhận thức được quyết tâm giáo hóa người Hoa Kỳ của Hòa Thượng. Tuy rằng đó là một công việc vô cùng khó khăn, thế nhưng, cuối cùng Hòa Thượng đã làm được. Ngài đã lập kỷ lục về sự hiện diện của Tăng tướng và kiến tạo những đạo tràng với chế độ Tăng Già “như Pháp” ngay tại đất nước Hoa Kỳ.

Ở đây cũng kỳ vọng rằng trong tương lai, tinh thần Phật Giáo chân chánh này sẽ tiếp tục được duy trì tại các nước phương Tây. Đây là lời kêu gọi ý thức “Phật Giáo hưng vong, nhân nhân hữu trách,” để Chánh Pháp được mãi mãi tồn tại trong nhân gian; và đó cũng chính là mục tiêu của văn bản này vậy.

Phần 4: Tóm Tắt Toàn Bộ Luận Án 

 

Bản luận án này gồm có chín chương.

Chương đầu tiên là “Lời Giới Thiệu.” 

Chương thứ hai là “Chánh Pháp”, được chia làm năm tiểu mục; chủ yếu là thảo luận các vấn đề về Chánh Pháp, Mạt Pháp, anh linh (linh hồn của trẻ con), ăn chay, khí công, phong bì đỏ, mặc giới y, và các đề tài khác, lấy những lời khai thị của Hòa Thượng để làm chuẩn, và trích dẫn thêm những chứng minh từ các kinh điển; mục đích chính là phá tan một số lý luận có tính cách “ngoại đạo theo Phật, có vẻ đúng mà sai” (lý thuyết từ những tôn giáo khác xen lẫn với Phật Giáo để trở thành một thứ có vẻ như Phật Giáo, nhưng thực chất thì không phải.)

Chương thứ ba là “Giảng Kinh”, giới thiệu các kinh điển Hòa Thượng đã giảng, cũng như những công trình mà tôi mệnh danh là “ba cuốn cẩm nang” (tam quyết) của Ngài: Lăng Nghiêm Chú Cú Kệ Sơ Giải, Thủy Kính Hồi Thiên Lục, Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải.

Chương thứ tư là “Lão Tử và Trang Tử”, đem phương thức khai thị “chánh ngôn nhược phản” (lời dạy mang ý nghĩa ngược lại) của Hòa Thượng phối hợp với học thuyết của Lão Tử, để độc giả càng hiểu rõ hơn về phương thức “thân giáo” và “ngôn giáo” của Hòa Thượng, thì mới không đến nỗi hiểu lầm dụng ý khổ tâm khai thị của Ngài. Đây chính là tinh thần “Đại Từ Đại Bi gần như tàn nhẫn”.

Chương thứ năm là “Sanh Tử”, phân tích gốc rễ của sanh tử và tiến thêm một bước thảo luận về vấn đề nam nữ. Đây là một vấn đề mà suốt đời Hòa Thượng không ngừng nhấn mạnh, bởi vì “vạn ác dâm vi thủ” (dâm dục là điều ác lớn nhất trong tất cả các điều ác). Do đó chương này có lẽ cũng khá “khó tiếp nhận” một chút!

Chương thứ sáu là “Bát Nhã”, giới thiệu những lời đối đáp nhạy bén, sâu sắc của Hòa Thượng trước các câu hỏi của tín chúng. Những lời này có thể giúp người ta được khai mở “trí huệ của tự tánh”; bởi:

Thấy sự, hiểu rõ, vượt thế gian,
Thấy sự, mê lầm, mãi chìm đắm.
Lời thô, lời tế nhị,
Đều về đệ nhất nghĩa!

 

Chương thứ bảy là “Thần Dị”, nêu lên ba “thần tích” của Hòa Thượng, đồng thời nói rõ kiến giải phân biệt của Ngài về thần thông, và làm sáng tỏ những ngộ nhận của ngoại giới đối với thần thông. 

Chương thứ tám là “Viên Tịch”, nói rõ các “nhân duyên” khác nhau của lịch đại Tổ Sư thị hiện lúc lâm chung và viên tịch; đồng thời đề xuất rằng “thần tích” cùng “đoan tướng” không hẳn là biểu hiện của sự thành tựu. Sự thành tựu chân chánh của một người phải được quyết định qua sự cống hiến và tu trì trong suốt cuộc đời, cũng như sự quan tâm về chúng sanh của người đó.

Chương thứ chín là “Kết Luận”, mô tả Hòa Thượng đã quan tâm về chúng sanh như thế nào, giải quyết vấn đề giáo dục và phiên dịch kinh điển ra sao, đồng thời Ngài đã làm thế nào để dung hợp Phật Giáo Nam Truyền với Bắc Truyền.

Trên đây là đại cương của toàn bộ luận án, thành kính xin được chỉ giáo.

Phần 5: Sơ Lược Tiểu Sử Hòa Thượng Tuyên Hóa

* Trích Khai Thị 3

Hoà Thượng vốn họ Bạch, tên tục là Ngọc-Thư, Pháp danh là An-Từ, tự Ðộ Luân, và Tuyên Hóa là Pháp hiệu do Lão Hòa Thượng Hư Vân đặc biệt tặng cho khi Ngài thọ lãnh sứ mạng làm người kế thừa truyền Pháp đời thứ chín của Thiền Tông Quy-Ngưỡng. Ngài sinh ngày 16 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), tại tỉnh Kiết Lâm, huyện Song-Thành, tỉnh Tùng-Giang, Ðông Bắc Trung Hoa (tức Mãn Châu). Thân phụ Ngài tên Phú Hải, chuyên nghề nông; thân mẫu thuộc dòng dõi họ Hồ, sinh được tám người con, năm trai ba gái, và Ngài là út.

Thân mẫu Ngài thọ chay trường, niệm Phật chẳng hề gián đoạn. Một đêm nọ bà mộng thấy Ðức Phật A-Di-Ðà hiện thân, phóng hào quang chiếu sáng khắp thế giới, chấn động thiên địa. Giật mình tỉnh giấc, bà ngửi thấy mùi hương kỳ diệu khắp phòng, rồi sau đó hạ sanh Ngài. Ngài vừa ra đời liền khóc suốt ba ngày đêm, chính là vì đau xót cho nỗi khổ của thế giới Ta Bà này vậy.

Năm Ngài mười một tuổi, một hôm cùng chúng bạn dạo chơi, Ngài chợt trông thấy một em bé miệng ngậm, mắt nhắm, nằm bó trong đám rơm. Ngài gọi mà đứa bé chẳng đáp, rờ thì chẳng có hơi thở. Ngài lấy làm khó hiểu vô cùng nên hỏi lũ bạn. Có kẻ hiểu biết nên liền nói : “Ðứa bé đã chết rồi!” Song Ngài vẫn vô cùng ngạc nhiên, không hiểu thế nào là chết.

Về nhà, Ngài thưa hỏi thân mẫu, bà dạy :

“Phàm làm người, ai cũng phải chết. Có kẻ chết già, có kẻ chết vì bệnh, cũng có kẻ chết vì tai nạn. Bất luận là giầu sang hay nghèo hèn, ai ai rốt cuộc cũng phải chết cả !”

Ngài lại thưa : Như vậy, có cách gì thoát khỏi sự chết chăng ?”

Bấy giờ trong nhà có vị khách xưa kia từng tu Ðạo, đỡ lời đáp rằng:

“Chỉ có cách tu Ðạo, hiểu rõ tự tâm, thấu suốt bổn tánh, thì mới có thể chấm dứt sanh tử, thoát vòng luân hồi, thành tựu Chánh Giác, chứng được Vô Sanh.”

Tuy lúc đó Ngài còn nhỏ tuổi, song đối với lời vị khách nói, Ngài tỉnh ngộ sâu xa, nên quyết chí xuất gia tu Ðạo. Khi Ngài mang chuyện xuất gia thưa với thân mẫu, bà dạy:

“Xuất gia là điều tốt lắm, song không phải là chuyện dễ làm. Cần có thiện căn, có đại nguyện lực, phát đại Bồ Ðề tâm, thì mới có thể thành tựu Vô Thượng Ðạo. Nay con có lòng vậy, mẹ hết sức đồng ý! Song, nay mẹ đã già, mà các anh chị con đều đã tự lập; vậy con nên ở lại để phụng dưỡng cha mẹ; khi mẹ mất rồi, con xuất gia tu hành cũng chưa muộn.”

Ngài vâng lời cha mẹ. Sau đó, hằng ngày Ngài thường theo thân mẫu lạy Phật. Lạy Phật xong, Ngài lạy cha mẹ. Rồi vì nhận thấy thế giới này còn lớn hơn cả cha mẹ, nên Ngài hướng về trời, đất, vua, sư trưởng mà lạy. Ngài lại nghĩ đến những người tốt trên thế giới mà lạy, thầm tạ ơn họ về các việc thiện họ đã làm. Nhận thấy những người ác thật đáng thương, Ngài lại vì họ mà lạy, mong sao nghiệp chướng của họ được giảm bớt và họ sớm biết hối cải. Mỗi ngày Ngài lại nghĩ thêm những người khác để lạy; nên về sau, bất kể thời tiết, mỗi ngày Ngài đều đặn lạy 837 lạy vào buổi sáng và 837 lạy vào buổi tối.

Ngày lại ngày, Ngài cung kính phụng dưỡng song thân như đối với Ðức Phật vậỵ Chẳng bao lâu tiếng hiếu thảo đồn khắp bốn phương, và mọi người đều gọi Ngài là Bạch Hiếu Tử (người con chí hiếu họ Bạch).

Năm Ngài mười chín tuổi thì gặp phải tang thân mẫu. Sau khi chu toàn việc mai táng, Ngài đến Chùa Tam Duyên lạy Lão Hòa Thượng Thường Trí làm Thầy, và xuống tóc xuất gia. Sau đó, Ngài về lại mộ phần thân mẫu thủ hiếu trong ba năm. Suốt thời gian ấy, Ngài sống trong một túp lều tranh nhỏ, ngày ngày tọa Thiền, đọc tụng kinh điển Ðại Thừa và niệm danh hiệu Phật A-Di-Ðà . Rất nhiều lần Ngài ngồi Thiền rồi nhập Ðịnh, liên tiếp trong nhiều tuần lễ chẳng rời thiền sàng. Một đêm nọ, dân trong thôn gần đó hốt hoảng thấy túp lều tranh của Ngài hừng hực lửa đỏ. Ánh lửa hồng phừng thẳng lên giữa không trung và túp lều tranh thì sáng rực như ban ngày. Song, khi tới nơi mọi người thấy túp lều tranh vẫn bình lặng, và Ngài thì an nhiên, tĩnh mặc trong Thiền Ðịnh!

Có lần Ngài đang tọa Thiền thì chợt có vị khách đến viếng. Vị khách ấy, ngạc nhiên thay, chính là Lục Tổ Huệ Năng! Ðức Tổ Sư dạy Ngài rằng trong tương lai Ngài sẽ đến Mỹ Quốc để độ sinh, rằng ở Tây Phương Ngài sẽ gặp nhiều kẻ hữu duyên có thể hoằng dương Phật Pháp, và sẽ độ vô lượng vô biên chúng sanh. Mãi đến lúc Ðức Tổ Sư từ biệt quay đi rồi, Ngài mới choàng tỉnh, sực nhớ rằng Ðức Huệ Năng vốn là người đời Ðường, khoảng 1.200 năm về trước!

With the Elder Master Hsu Yun at Nanhua Monastery in China, 1948

Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân và Hòa Thượng Tuyên Hóa

Vừa nhìn thấy Ngài, Lão Hòa Thượng, lúc ấy đã 109 tuổi, liền nhận ra ngay sự chứng ngộ của Ngài. Khi đó, Lão Hòa Thượng nói : “Như thị, như thị!” và Ngài cũng đáp lại “Như thị, như thị !” Biết Ngài là bậc ‘pháp khí’, Lão Hòa Thượng Hư Vân ấn chứng sở đắc của Ngài, và Ngài chính thức trở thành vị tổ thứ chín của Thiền Tông Quy Ngưỡng. Lão Hòa Thượng Hư Vân đã bày tỏ sự tin tưởng vào Ngài qua bài kệ:Năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ Hai kết thúc, tình trạng giao thông trong nước đã bắt đầu dễ dàng trở lại. Ngài bèn tìm xuống phía Nam để đến Chùa Nam Hoa ở Tào Khê, tỉnh Quảng Ðông, đảnh lễ Lão Hòa Thượng Hư Vân, và đến núi Phổ Ðà để thọ Cụ Túc Giới. Cuối cùng, trải hơn 3.000 dặm, Ngài đã được bái kiến Lão Hòa Thượng Hư Vân, bậc Ðại Thiện Tri Thức mà Ngài bấy lâu ngưỡng mộ.

Tuyên Quy diệu nghĩa chấn gia thanh,
Hóa thừa Linh nhạc Pháp Đạo long,
Độ dĩ tứ lục truyền tâm ấn,
Luân triền vô hưu tế khổ luân.

Sau đó, Lão Hòa Thượng dạy Ngài ở lại đảm nhận chức Viện Trưởng Viện Giới Luật Chùa Nam Hoa.

Năm 1949, Ngài từ giã Chùa Nam Hoa, lên đường sang Hương Cảng, và sống trong một sơn động biệt lập. Chẳng bao lâu, có vô số tăng lữ từ Trung Hoa Ðại Lục qua Hương Cảng tỵ nạn và cần sự giúp đỡ của Ngài. Ứng với nhân duyên, Ngài rời sơn động, sáng lập Phật Giáo Giảng Ðường, Chùa Tây Lạc Viên và Từ Hưng Thiền Tự, cùng trợ giúp xây dựng và trùng tu nhiều đạo tràng khác. Trong suốt mười hai năm ở Hương Cảng, Ngài là tấm gương sáng khổ hạnh, tinh tấn tu Ðạo, vì Pháp quên mình. Ngài đã ảnh hưởng vô số thiện nam tín nữ, khiến họ phát tâm Bồ Ðề, quy y Tam Bảo, ủng hộ Phật Pháp.

Hòa Thượng Tuyên Hóa vốn nuôi chí nguyện đem Chánh Pháp truyền bá đến khắp nơi trên toàn thế giới, nên năm 1961, Ngài sang Úc Châu hoằng Pháp; và năm sau, 1962, Ngài đến San Francisco, Hoa Kỳ. Tại đây, nơi một nhà kho nhỏ, Ngài kiên trì tu hành trong im lặng, chờ đợi cơ duyên hoằng dương Ðạo Pháp chín muồi. Lúc ấy, Ngài tự gọi mình là Mộ Trung Tăng (nhà sư trong phần mộ), và Hoạt Tử Nhân (người đã chết nhưng còn sống).

Năm 1968, biết cơ duyên đã đến, Ngài nói: “Một đóa hoa sẽ nở ra năm cánh.” Mùa hè năm ấy, Ngài chủ trì Pháp hội giảng Kinh Lăng Nghiêm trong 96 ngày. Khi Pháp hội kết thúc, quả nhiên có năm người Mỹ xin xuất gia với Ngài. Từ đó, Ngài chủ trì nhiều Pháp hội khác giảng giải Tâm Kinh, Kinh Ðịa Tạng, Kinh Pháp Hoa, Kinh Pháp Bảo Ðàn, v. v.. Năm 1971, Ngài giảng bộ Kinh tối cao của Ðại Thừa, Kinh Hoa Nghiêm.

Song song với việc giảng Kinh thuyết Pháp, Ngài còn làm vô số công đức độ sinh khác. Năm 1976, Ngài thành lập Vạn Phật Thánh Thành, nền tảng căn cứ địa để hoằng dương Phật Pháp tại Hoa Kỳ. Tại Vạn Phật Thánh Thành, Ngài xây dựng chế độ tùng lâm, đào tạo Tăng Ni học chúng, tạo nhân duyên thù thắng cho sự chân chánh tu hành. Ngài chủ trương rằng tất cả Phật tử cần phải đoàn kết lại và nên dung hợp Nam, Bắc Tông. Vì thế, nhiều dịp truyền thọ Tam Ðàn Ðại Giới tổ chức tại Vạn Phật Thánh Thành là do chư cao tăng Ðại Thừa và Tiểu Thừa hợp lực chủ trì.

Tại Vạn Phật Thánh Thành, Ngài đã làm bài kệ nói lên quyết tâm của mình:

Đống tử bất phan duyên,
Ngạ tử bất hóa duyên,
Cùng tử bất cầu duyên.
Tùy duyên bất biến,
bất biến tùy duyên,
Bao định ngã môn tam đại tông chỉ.
Xả mạng vi Phật sự,
Tạo mạng vi bổn sự,
Chánh mạng vi Tăng sự.
Tức sự minh lý, minh lý tức sự,
Thối hành Tổ Sư nhất mạch tâm truyền.

Tạm dịch:

Dù rét chết, không phan duyên;
Dù đói chết, không van nài;
Dù nghèo chết, không cầu cạnh.
Tùy duyên, không đổi;
không đổi, tùy duyên;

Ba Tông Chỉ ấy, ta phải giữ gìn.
Xả thân vì Phật sự,
Tạo mạng vì bổn sự,
Chánh mạng vì Tăng sự.
Hiểu sự, rõ lý; rõ lý, hiểu sự;
Lưu hành mạch phái Tổ Sư tâm truyền.

Scan053, May 06, 2006.jpg (211862 bytes)

Hai câu đối sau lưng Hòa Thượng:

Đống tử bất phan duyên,
Ngạ tử bất hóa duyên,
Cùng tử bất cầu duyên.
Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên,
Bao định ngã môn tam đại tông chỉ.

 

Xả mạng vi Phật sự,
Tạo mạng vi bổn sự,
Chánh mạng vi Tăng sự.
Tức sự minh lý, minh lý tức sự,
Thối hành Tổ Sư nhất mạch tâm truyền.

 

Năm 1980, Ngài thành lập Trung Tâm Cứu Tế Nạn Dân, một tổ chức cứu trợ xã hội bất vụ lợi được chính phủ Hoa Kỳ ủy quyền để cứu tế, cung cấp các lớp huấn nghệ và Anh ngữ, đồng thời giúp tái định cư người tỵ nạn từ Việt Nam, Lào, Cambodia. Trung tâm này đóng cửa vào năm 1986 theo quyết định của chính phủ.

Với tinh thần “vì Pháp quên mình,” Hòa Thượng không quản khó nhọc, thường xuyên đến các đạo tràng trong và ngoài nước để hoằng dương Phật Pháp. Ngài được mọi giới kính ngưỡng vì nếp sống khổ hạnh và nghiêm trì Giới Luật của Ngài. Trong thời Mạt Pháp mà nhiều người không tôn trọng Giới Luật này, Ngài đã nêu gương sáng và khuyến khích nếp sống khổ hạnh bằng cách chỉ ăn mỗi ngày một bữa vào giờ ngọ và ban đêm thì ngủ ngồi chứ không nằm.

Bình sanh, Ngài sống nhẫn nhục, khoan dung, nhịn ăn nhiều lần để hồi hướng công đức cho chúng sanh. Cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở nước Cuba vào năm 1962 đã xảy ra không bao lâu sau khi Ngài đến Hoa Kỳ; Ngài đã tuyệt thực năm tuần lễ để hồi hướng cho nền hòa bình thế giới. Vào dịp Ngài du hành Ðài Loan năm 1989, Ngài đã nhịn ăn ba tuần lễ để hồi hướng cho dân chúng Ðài Loan. Sau đó, Ngài lại đi hoằng Pháp tại nhiều nước Châu Âu.

Mặc dầu tuổi tác Ngài đã cao nhưng Ngài vẫn không muốn nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Suốt ba mươi năm liên tục, Ngài đã đăng đàn thuyết Pháp và giảng luận kinh điển Phật Giáo, giương cao ngọn đèn rực rỡ của trí huệ để soi đường cho chúng sanh đang chìm đắm trong đêm tối của thời đại Mạt Pháp này. Chính trong lúc Ngài đang bệnh để gánh chịu khổ nạn cho chúng sanh, Ngài vẫn kiên trì tiếp tục đại nguyện diễn dịch kinh điển Phật Giáo.

Ngày 7 tháng 6 năm 1995 (nhằm ngày 10 tháng 5 năm Ất Hợi), Hòa Thượng Tuyên Hóa thị hiện viên tịch tại Los Angeles, Hoa Kỳ; trao lại cho các đệ tử ba trách nhiệm quan yếu :

(1) tiếp tục hoằng dương Phật Pháp,
(2) phiên dịch kinh điển Phật Giáo, và
(3) hoàn mãn sự nghiệp giáo dục.

Vâng theo di huấn của Ngài, tứ chúng đệ tử tại các đạo tràng thuộc Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đều chuyên tâm trì tụng Kinh Hoa Nghiêm và niệm Phật suốt 49 ngày kể từ hôm Ngài viên tịch. Ngày 12 tháng 6, 1995, Lễ Nhập Quan được cử hành tại Long Beach Thánh Tự; và đến ngày 16 tháng 6, kim quan của Ngài được cung thỉnh về Vạn Phật Thánh Thành. Tại đây, Ðại Lễ Truy Ân được tổ chức từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 7. Và sau Thánh Lễ Trà Tỳ, ngày 29 tháng 7, tro cốt của Ngài được rải trên địa phận của Vạn Phật Thánh Thành đúng như lời di giáo của Ngài:

“Hãy quét sạch tất cả các Pháp, ly khai tất cả các tướng !”                   –Hòa Thượng Tuyên Hóa


“Khi tôi đến, tôi không có gì cả; khi tôi đi, tôi vẫn không có gì cả. Tôi không muốn để lại dấu vết gì trên thế gian. Tôi từ hư không đến. Tôi sẽ trở về hư không!”

Dù cho Ngài không muốn để lại một dấu vết nào trên thế gian này, nhưng công đức hoằng Pháp tại Tây Phương, phiên dịch kinh điển, thiết lập đạo tràng và học đường của Ngài lúc còn tại thế đã gieo hạt giống Bồ Ðề và đã gây được ảnh hưởng sâu rộng đến các tầng lớp dân chúng Tây Phương. Những dấu ấn đó của Ngài sẽ không bao giờ phai mờ với thời gian !

Ngày 23 tháng 6 năm 1996, đúng một năm sau ngày Hòa Thượng Tuyên Hóa nhập Niết Bàn, Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới long trọng tổ chức Lễ Cung Thỉnh Xá Lợi Hòa Thượng Về Các Ðạo Tràng Chi Nhánh. Hòa Thượng Tuyên Hóa đã vĩnh viễn ra đi, nhưng trong tâm trí mọi người vẫn âm vang lời di huấn của Ngài: “Hãy quét sạch tất cả các Pháp, ly khai tất cả các tướng !”

 

 

Chương Thứ Hai: Chánh Pháp

 

Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳ là thời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp. Các thời kỳ Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được ghi chép trong các kinh điển thì không đồng nhất, nhưng hầu hết các bậc cổ đức đều theo thuyết ước định thời kỳ Chánh Pháp là 500 năm, thời kỳ Tượng Pháp là 1.000 năm, và thời kỳ Mạt Pháp là 10.000 năm.

Trong thời Chánh Pháp (“chánh” có nghĩa là chứng), mặc dầu Đức Phật đã diệt độ, nhưng Pháp nghi vẫn không thay đổi. Có giáo pháp, có sự hành trì, và có người chứng đắc quả vị–đó gọi là thời kỳ Chánh Pháp, và còn được mệnh danh là thời kỳ “Thiền Định kiên cố”.

Trong thời Tượng Pháp (“tượng” có nghĩa là biểu tượng), tuy vẫn có giáo pháp, có sự hành trì, nhưng số người chứng đắc quả vị thì rất ít; thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ “tự miếu kiên cố”.

Trong thời Mạt Pháp (“mạt” có nghĩa là suy vi, yếu kém), Phật Pháp trở nên suy tàn, chỉ có giáo pháp chứ không có sự hành trì, và càng không có người chứng đắc quả vị. Thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ “đấu tranh kiên cố”.

Trên đây là lời giải thích thông thường về ba thời kỳ Chánh, Tượng và Mạt của Phật Pháp. Thế nhưng, Hòa Thượng định nghĩa về Chánh Pháp như sau:

“Quý vị thành thật tu hành, không ham hư danh giả lợi, không tham của cúng dường — đó chính là Chánh Pháp trụ thế. Nếu mọi người xuất gia đều có thể giữ giới không đụng đến tiền bạc (ngân tiền giới), đều có thể ngồi Thiền, có thể ngày ăn một bữa lúc giữa trưa, có thể luôn luôn mặc giới y và nghiêm trì giới luật, thì đó là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!”

Thậm chí Hòa Thượng còn giảng nghĩa một cách đơn giản hơn nữa:

“Nếu quý vị có thể không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không nói dối, thì đó chính là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!”.

6DTC_a.jpg (286904 bytes)

Như vậy, thế nào là thời kỳ Mạt Pháp? Trong quyển 5 của Pháp Hoa Nghĩa Sớ có chép:Khi

[Pháp] trở thành suy vi, đó gọi là thời Mạt Pháp.“

Trong quyển 6, chương Nghĩa Lâm của Đại Thừa Pháp Uyển có nói:Chỉ có giáo pháp mà không có gì khác thì gọi là Mạt Pháp.

Tuy nhiên, sự mô tả chân chánh tường tận về thuyết Mạt Pháp được xuất hiện trong phần Nguyệt Tạng của Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, và trong Kinh Pháp Diệt Tận.

Về sau, thuyết Mạt Pháp xuất hiện dưới triều đại Bắc Tề (550-377 SCN), trong bài văn phát nguyện của Thiền Sư Huệ Tư ở Nam Nhạc (Nam Nhạc Tư Thiền Sư Lập Thệ Nguyện Văn). Thiền Sư Huệ Tư đã tự ghi lại là ngài sanh vào năm thứ 82 của thời Mạt Pháp và đã chép lại toàn bộ Kinh Bát Nhã cùng nhiều bản văn khác. Ngài đã nguyện sẽ truyền Pháp cho đến khi Bồ Tát Di Lặc đến thế gian này.

Đời nhà Tùy (589-618 SCN), Thiền Sư Tín Hành đề xướng “giáo pháp ba giai đoạn” (tam giai giáo) với Nhất Thừa là giai đoạn đầu tiên, Tam Thừa là giai đoạn thứ nhì, và Phổ Pháp (toàn bộ lời dạy của Đức Phật) là giai đoạn thứ ba.

Trong đời nhà Đường (618-905 SCN), Đại Sư Đạo Trác và Đại Sư Thiện Đạo có nói rằng đương thời là đã vào thời Mạt Pháp, và chủ trương “thời giáo tương ưng” (khế hợp giáo pháp với thời đại), khuyến khích người đời tu pháp môn Niệm Phật.

Nói chung, cho dù thời kỳ Mạt Pháp nhất định có xảy đến chăng nữa, thì trong quyển 49 của Thập Tụng Luật, Đức Phật cũng đã nêu ra năm điều có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.

Năm điều này là:

  1. Tôn Trọng Chánh Giáo. Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo chỉ dựa vào giáo pháp chân chánh mà tiến tu, xa lánh cái nhìn lệch lạc (thiên kiến) của Tiểu Thừa cùng các tà thuyết của ngoại đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
  2. Chỉ Tức Sân Ác (đình chỉ nóng giận và ác độc). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo luôn luôn thực hành hạnh nhẫn nhục, không nóng giận, danh tiếng về đức độ lan xa làm cho mọi người đều quay về và dốc lòng kính ngưỡng; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
  3. Kính Sư Thượng Tòa (tôn kính phụng sự các bậc trưởng thượng). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo tôn kính và phục tòng các vị đại đức ở hàng thượng tọa và chuyên cần cầu học yếu nghĩa Phật Pháp từ họ; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
  4. Ái Lạc Chánh Pháp (trân quý Chánh Pháp). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo trân quý thâm sâu những điều pháp nghe được từ các bậc thượng tọa, trưởng lão kỳ cựu, và vui mừng thực hành theo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
  5. Thiện Hối Sơ Tập (giải thích kỹ càng cho kẻ sơ học). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo phương tiện diễn nói pháp Đại Thừa một cách khéo léo, làm cho những kẻ mới bắt đầu học Phật Pháp có thể dựa vào để tiến tu trên đường Đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.

Vào thời Mạt Pháp, chúng sanh không thể liên tục phân biệt đuợc chánh tà, đến nỗi nhiều người muốn vào cửa Phật để tu hành nhưng đã bị vào lầm cửa. Đó là do họ thiếu “Trạch Pháp Nhãn”. Mặc dầu trong thời Mạt Pháp, hiện tượng “mắt cá xen lẫn ngọc trai” trong cửa Phật không phải là ít, song nguyện lực của Hòa Thượng rất rõ ràng:

“Tôi nhất định phục hưng Chánh Pháp. Tôi chỉ cho phép Phật Giáo có Chánh Pháp chứ không có Mạt Pháp! Bất cứ nơi nào tôi đến, nơi đó sẽ có phước đức, trí huệ và được giảm bớt tai ương. Đây là nguyện lực của tôi. Do đó, không quản khả năng giới hạn của mình, tôi đi khắp nơi tuyên thuyết Chánh Pháp và hành trì Chánh Pháp.”

Mặc dầu Đức Phật nhiều lần đề cập đến sự hủy diệt của Phật Pháp, tuy nhiên Đức Phật cũng có ý khắc phục sự hủy diệt của Chánh Pháp. Như trong Kinh Niết Bàn có chép:

“Trong thời Mạt Pháp sẽ có mười hai vạn (120.000) vị Đại Bồ Tát trì Pháp, khiến cho bất diệt.”

Từ đó có thể biết được rằng nguyện lực “không cho phép có Mạt Pháp” của Hòa Thượng há chẳng phải chính là tâm đại từ đại bi của chư Như Lai hay sao?

Hòa Thượng đã cảm khái rằng:

 “Phật Pháp chưa diệt, Tăng tự diệt,
Đạo đức cần tu, chẳng ai tu,
Thành thật chân chánh, bị chế giễu,
Gian ngoa xảo trá, được tán dương.
Thế giới Ngũ Trựơc híếm thanh tịnh,
Chúng sanh say Ba Độc chẳng tỉnh,
Ân cần nhắn nhủ Tăng Ni trẻ:
Chấn hưng Phật Giáo cậy Tỳ Kheo!”

Trong Phật Giáo không thể có 99%–nếu chỉ một phần nhỏ trong Phật Giáo là giả dối, thì đó không còn là “Chánh Pháp” nữa! Do đó chúng ta phải phân biệt thật rõ ràng, bởi vì trong các chùa chiền đều có cả “tà pháp và ngoại đạo”.

Phật Giáo có câu: “Thà cả ngàn năm chẳng vãng sanh, còn hơn một ngày trong ma đạo”. Nếu chúng ta thiếu Trạch Pháp Nhãn của “Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối” (trong Kinh Lăng Nghiêm) e rằng chúng ta có thể trở thành quyến thuộc của loài ma mà chính mình lại không hay không biết!

Nhân đây, người viết xin giới thiệu bảy điểm rất quan trọng trong việc phân biệt chánh tà:

  1. Vị Thầy lấy việc thay đổi chồng vợ, nam nữ hoang dâm, buông thả vô độ, làm mồi nhử để thu hút đồ chúng, và xem như là phương tiện để cứu thế gian; đó là tà.
  2. Vị Thầy khơi dậy lòng tham của đồ chúng bằng cách nói rằng mình có thể dùng bùa, chú, và thần tài để giúp họ trở nên giàu có; đó là tà.
  3. Vị Thầy khuyến khích trực tiếp hay gián tiếp việc giết hại chúng sanh và ăn thịt chúng sanh, còn nói rằng mình có thể dùng bùa chú để cứu độ vong linh của những chúng sanh bị ăn thịt; đó là tà.
  4. Vị Thầy thực hành các loại khổ hạnh kỳ dị, tự làm thương tổn để tác động chúng sanh, và gọi đó là chịu khổ thay cho chúng sanh; đó là tà.
  5. Vị Thầy dùng thần thông và các điều kỳ dị làm “công cụ” để thu hút những chúng sanh có lòng hiếu kỳ; đó là tà.
  6. Vị Thầy tự ý thêm bớt, sửa đổi các quả vị tu hành trong Phật Giáo và giải thích lệch lạc ý nghĩa của “tín, giải, tu, chứng,” còn tự cho mình là giáo chủ; đó là tà.
  7. Vị Thầy tự lập ra tông phái rồi tự xưng là giáo chủ mà chính mình lại không có căn bản chân thật về đạo lý Phật Giáo; đó là tà.

 

Phần 1: Chánh Pháp và Mạt Pháp

 

Một lần nọ, có một Phật tử hỏi:

“Hòa Thượng thường nói rằng:

Chân thật nhận lỗi mình,
Không bàn lỗi người khác,
Lỗi người là lỗi mình,
Đồng thể tức Đại Bi.

Thế nhưng tại sao Hòa Thượng lại thường công khai phê bình, bàn luận thị phi về người khác và đăng trong Kim Cang Bồ Đề Hải (Vajra Bodhi Sea – nguyệt san của Vạn Phật Thánh Thành)? Như vậy phải chăng là nói một đường, làm một nẻo?”

Hòa Thượng trả lời:

“Người sẽ bị đọa địa ngục là tôi chứ không phải ông. Nếu những gì tôi nói là đúng sự thật, thì đó không phải là thị phi; nếu không đúng sự thật, thì tôi chắc chắn sẽ bị đọa địa ngục. Nếu có kẻ nói rằng bậc đại tu hành không bị nhân quả, thì quả báo là 500 đời làm thân chồn (hồ ly).

Nếu tôi chối bỏ nhân quả–gọi đen là trắng, gọi trắng là đen, nói đúng thành sai, nói sai thành đúng – nói những điều không đúng thật, thì tôi sẽ bị đọa địa ngục Bạt Thiệt (rút lưỡi). Nếu tôi không nói sai, thì tôi không có tội.

Mạnh Tử có nói: ‘Ta há phải thích biện luận đâu! Ta cũng bất đắc dĩ đó thôi! Nếu cái đạo của Dương Tử và Mặc Tử không tắt đi, thì cái đạo của Khổng Tử chẳng được sáng rỡ vậy!’ (1)

Tại sao tôi thích nói về ‘thị, phi’ (điều đúng và điều sai)? Vì trong Phật Giáo có quá nhiều ‘thị, phi’!

Lại còn nào là hắc giáo (giáo phái đen), bạch giáo (giáo phái trắng), hoàng giáo (giáo phái vàng), hồng giáo (giáo phái đỏ) … thảy đều biến thành nhiều màu sắc khác nhau, đến hoa cả mắt. Ngay cả đen cũng không biết mình là đen, trắng cũng chẳng hay mình là trắng. Cho nên, tôi muốn nói ra những điều mà người khác không dám nói; nếu quý vị có ai không hài lòng thì cũng không sao, tôi cũng chẳng bận tâm. Tôi là kẻ chuyên môn đả phá tà tri tà kiến của người khác!”

Từ đoạn nói chuyện trên, chúng ta có thể thấu rõ được tâm từ bi bao la không đành lòng thấy chúng sanh bị đau khổ của Hòa Thượng. Đó gọi là “đại từ đại bi, gần như tàn nhẫn”, và chính là thiện xảo phương tiện để giáo hóa chúng sanh của bậc Bồ Tát. Hòa Thượng có lần viết bài thơ nói lên quyết tâm của Ngài:

“Tôi muốn nói lời thật,
Không sợ bị đánh, chửi.
Giết tôi, tôi chẳng sợ,
Giải thoát, có gì ngại?”

Hòa Thượng Hư Vân đã nói:

“Nho sĩ là tội nhân của Khổng Tử; Tăng sĩ là tội nhân của Phật.”

Cũng có thể nói rằng:

“Kẻ hủy diệt Phật Pháp chính là giáo đồ của Phật Giáo, chứ không phải các giáo phái khác. Kẻ làm cho Lục Quốc diệt vong chính là Lục Quốc, chứ không phải nhà Tần. Kẻ làm suy sụp nhà Tần chính là nhà Tần (1*), chứ không phải Lục Quốc vậy.”

Trong kinh có nói rằng những biểu hiện suy tàn của thời kỳ Mạt Pháp có thể nhận thấy ở khắp nơi – như việc Tăng sĩ cưới vợ, ni cô lấy chồng, giới y cà-sa được thay bằng y phục thế tục, cư sĩ ngồi trên tòa cao, v.v … Có cư sĩ Âu Dương Cánh Vô đã dùng tri kiến riêng của mình mà viết ra Lăng Nghiêm Bách Ngụy Thuyết để phản đối Kinh Lăng Nghiêm.

Lại có Pháp Sư Viễn Tham tuyên bố rằng Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Pháp Hoa và nhiều bộ kinh khác, cũng như Đại Thừa Khởi Tín Luận đều là giả mạo. Đây chính là những hiện tượng của thời kỳ Mạt Pháp.

Hòa Thượng đã nhiều lần lập lại lời huấn thị về việc bảo vệ và duy trì Chánh Pháp:

DSC06229.JPG (109883 bytes)

“Trong Phật Giáo, tất cả kinh điển đều rất quan trọng, nhưng Kinh Lăng Nghiêm còn quan trọng hơn nữa. Phàm hễ nơi nào có Kinh Lăng Nghiêm, thì nơi đó có Chánh Pháp trụ thế. Khi Kinh Lăng Nghiêm bị mất đi, đó là dấu hiệu của thời kỳ Mạt Pháp. Khi giảng Kinh Lăng Nghiêm, tôi có nói rằng: ‘Vào thời kỳ Mạt Pháp, Kinh Lăng Nghiêm sẽ bị diệt trước nhất. Sau đó dần dần các kinh khác cũng bị diệt theo.’

Kinh Lăng Nghiêm là chân thân của Phật, là xá-lợi của Phật, là tháp miếu thờ Phật. Nếu Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, thì tôi sẵn sàng chịu đọa địa ngục Vô Gián, vĩnh viễn ở chốn địa ngục, không bao giờ được trở lại thế gian để gặp mọi người nữa! Người nào có thể học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, học thuộc Chú Lăng Nghiêm, thì người đó chính là đệ tử chân chánh của Phật!”

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tôn Giả Ca Diếp rằng:

“Trong quá khứ khi Ta là vị vua tên Hữu Đức, để hộ trì Chánh Pháp, Ta đã chiến đấu với những kẻ muốn hủy hoại Chánh Pháp, và đã mạng vong. Sau khi chết, Ta được sanh về cõi nước của Phật A Súc Bệ và trở thành đệ tử thượng thủ của Đức Phật đó.

Này Ca Diếp! Những người hộ trì Chánh Pháp được quả báo công đức vô lượng như thế. Do nhân duyên hộ trì Chánh Pháp này, mà nay Ta được tướng hảo trang nghiêm và thành tựu được Pháp thân kim cang bất hoại.”

Pháp tự nó vốn không có “Chánh, Tượng, Mạt”; nhưng tâm con người thì có sự phân biệt về “Chánh, Tượng, Mạt”. Theo Hòa Thượng, bất cứ khi nào còn có người dụng công tu hành, thì khi đó là Chánh Pháp còn đang trụ thế.

Nếu không còn ai tu hành, không có người nào đọc, tụng, và học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, thì đó là thời kỳ Mạt Pháp. Bởi trong Kinh Lăng Nghiêm, có phần “Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối” giảng về sát sanh (sát), trộm cắp (đạo), dâm dục (dâm), dối trá (vọng); với phần “Ngũ Thập Ấm Ma” giảng về thiên ma, ngoại đạo cặn kẽ đến tận xương tuỷ; và cả hai phần này đều nói rất rõ ràng rằng khi nào không còn người giữ giới, thì khi đó là thời kỳ Mạt Pháp. Giới còn, tức là Phật Pháp còn vậy!

Vào năm 1990, trong một lần thuyết giảng tại Trung Tâm Lao Công tại Cao Hùng ở Đài Loan, Hòa Thượng đã khẩn thiết nói rằng:

“Thời kỳ Mạt Pháp là do những người tại gia chỉ hộ trì cho một người xuất gia riêng lẻ mà tạo thành!”.

Vì sao lại như thế?

Hòa Thượng giải thích rằng:

“Người xuất gia sống một mình một chùa, xưng vương xưng bá, làm vua một cõi. Người tại gia do thiếu Trạch Pháp Nhãn nên đi theo hộ Pháp cho họ, hộ tới hộ lui, và hộ luôn xuống địa ngục!

Vào thời kỳ Chánh Pháp, tất cả đại chúng đều sống chung trong một đại tùng lâm của chùa, và cùng nhau dụng công tu Đạo. Song, vào thời kỳ Mạt Pháp, người ta lại không thích nề nếp sinh hoạt của đại tùng lâm nữa. Mỗi người đều ở một chùa riêng – ông theo cách của ông, tôi theo cách của tôi – khiến cho người tại gia trở nên hoang mang, bối rối. Họ thấy ông Sư nầy tướng mạo trông đẹp đẽ bèn hộ pháp cho ông ta, xây chùa riêng cho ông ta trụ trì. Rồi sau đó lại thấy một vị Sư khác cũng không tệ lắm, họ lại xây cho vị đó một ngôi chùa nữa. Hộ tới hộ lui, rốt cuộc là làm cho những người xuất gia sanh lòng tham danh hám lợi đến nỗi phải hoàn tục!”

Hòa Thượng hoàn toàn không phản đối việc xây cất chùa chiền, nhưng chỉ vì con người ngày nay quá hưởng thụ, không biết lấy “Pháp nghĩa và giáo dục” (nghĩa lý Phật Pháp và đạo lý giáo dục) để hóa độ chúng sanh. Họ chỉ biết dùng việc “xây chùa lớn” để độ chúng sanh, cùng bày ra phương cách để được nổi tiếng và trở nên giàu có.

Cái nhìn của Hòa Thượng về việc kiến tạo chùa chiền như sau:

“Tạo chùa không bằng tạo người, tạo người không bằng tạo Phật. Tôi muốn làm một người thợ đúc tượng. Tôi muốn đúc nên những vị Phật sống, những vị Bồ Tát sống, những vị Tổ Sư sống. Tôi còn muốn làm cho tất cả chúng sanh trên toàn thế giới này đều biến thành những vị Phật sống, Bồ Tát sống, Tổ Sư sống luôn nữa!

Tôi đả phá đây không phải là những ngôi chùa lớn, mà là các miếu thờ Thổ Địa, miếu thờ Thành Hoàng, miếu thờ của con cháu gia tộc. Khi những người ở chùa nhỏ dọn sang chùa lớn, thì tất cả có thể cùng nhau tu hành, như thế mới là nếp sinh hoạt của một đại tùng lâm.

Vì sao ở chùa nhỏ thì không được tốt? Bởi vì ở đó thiếu sự gò bó, câu thúc; không cần phải ‘quán tự tại’, mà có thể ăn ‘tự tại’, mặc ‘tự tại,’ đi đứng ‘tự tại,’ nên rất dễ quên mất việc tu Đạo. Hằng ngày chỉ biết phan duyên, mà tập khí nầy chính là vết thương chí mạng làm băng hoại Phật Giáo!”

Tôi hy vọng Phật Giáo sẽ ghi lòng tạc dạ những lời này và đừng tiếp tục “bịt tai ăn cắp chuông,” dối gạt nhân loại nữa. Hiện nay, các dấu hiệu hỗn loạn trong Phật Giáo tại Đài Loan đã vô cùng nghiêm trọng, có thể nói là đến mức phải báo động rồi; thế nhưng, chẳng có người nào dám đứng ra lên tiếng kêu gọi; mà ai nấy chỉ trố mắt ngồi nhìn cảnh Phật Giáo đang đi dần về hướng diệt vong.

Cách ba bước là có một tịnh xá, đi năm bước là gặp một ngôi chùa lớn – mọi người đều ra sức tổ chức Pháp hội, siêu độ vong linh, làm lễ quán đảnh, truyền Pháp, xây chùa…, mà chẳng hay biết gì về việc hoằng dương giáo nghĩa, hướng dẫn chúng sanh làm thế nào để chấm dứt sanh tử!  (2)

Giáo nghĩa căn bản của Đức Phật là giáo dục, làm cho tất cả chúng sanh đều có trí huệ, có Trạch Pháp Nhãn, biết nhân biết quả, đoạn ác tu thiện; chứ chẳng phải một mực chú trọng về việc xây chùa dựng miếu, tổ chức Pháp hội! Chúng ta có bao giờ tự hỏi rằng đằng sau những lời giáo huấn nghiêm khắc này của Hòa Thượng ẩn chứa biết bao máu lệ xót xa?

Như ý nghĩa trong câu “đản năng quang chiếu viễn, bất tích tự phần thân”, Hòa Thượng chỉ muốn ánh sáng từ ngọn đuốc trên tay Ngài soi sáng đuợc càng xa càng tốt, mà chẳng quan tâm đến việc mình bị phỏng! “Dầu gặp muôn vàn khó khăn, tôi vẫn giữ vững ý chí của mình.” Đây là lời mô tả chân thật nhất về Hòa Thượng.

 

Phần 2: Anh Linh và Sự Siêu Độ

Với sự thịnh vượng hiện nay tại một vài quốc gia Phật Giáo, mọi người đều nhắm thẳng vào chữ “tiền”, và từ đó nảy sinh ra “ngành nghề” siêu độ, điển hình là việc “cúng dường anh linh”– cầu siêu cho linh hồn của những đứa trẻ bị chết khi chưa ra đời.

Về vấn đề này, Hòa Thượng khai thị rằng:

“Việc này không thể gọi là ‘cúng dường’ được, vì đó không phải là Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Nếu quý vị gọi đó là ‘cúng dường,’ tức là đã rơi vào tà kiến vậy. Đó phải gọi là ‘siêu độ’. Thứ oán hận này quá sâu dày, rất khó siêu độ; bởi vì đó là món nợ tước đoạt sanh mạng (đoạt mạng trái), thì phải được trả bằng cách đền lại sanh mạng (đoạt mạng hoàn). Thế nhưng, nếu gặp được một bậc chân tu không tham tiền thì các anh linh đó có ‘cơ hội’ được siêu độ.

“Phá thai là một vấn đề vô cùng quan trọng. Một trong những lý do hiện nay trên thế giới có quá nhiều hoài nghi, khó khăn, cũng như quá nhiều chứng bệnh nan y, là từ sự phá thai. Quý vị hãy ngừng lại và suy nghĩ xem: Một sanh mạng chưa kịp chào đời đã trở thành một oan hồn; khắp nơi nhan nhản những hồn ma nhỏ bé phiêu bạt đòi mạng, thì theo quý vị, xã hội có thể an ninh được sao? Những hồn ma nhỏ bé này cần phải gặp được người có Đạo hạnh và không tham tiền thì mới được siêu độ.”

Trong đoạn này Hòa Thượng đưa ra vấn đề là “oán này quá sâu dày”, thật khó siêu độ, cần phải là bậc tu hành không tham tiền tài mới có thể có “cơ hội” siêu độ cho chúng. Do đó, mọi người nhất định phải đừng mê tín mà cho rằng dùng “tiền” để tạo nhiều công đức thì sẽ siêu độ “xong xuôi” được. Nếu quý vị làm như vậy, thì đó là không hiểu nhân quả, đảo gốc thành ngọn. Bên cạnh đó, trong các kinh Phật cũng nhắc đi nhắc lại rằng “không được giết hại hoặc phá thai”.

Ví dụ, trong Kinh Phật Thuyết Trường Thọ Diệt Hộ Chư Đồng Tử Đà La Ni có chép:

“Thế gian có năm điều khó diệt dầu có sám hối. Những gì là năm? 1) Giết cha mình; 2) giết mẹ mình; 3) giết thai chưa sanh; 4) làm thân Phật chảy máu; 5) phá hòa hợp tăng. Những ác nghiệp như thế, tội khó tiêu diệt.”

Trong Kinh Phật Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt có đoạn nói:

“Có mười loại nghiệp có thể khiến chúng sanh bị quả báo đoản mạng: 1) Tự mình làm việc giết hại; 2) khuyến khích kẻ khác làm việc giết hại… 7) hủy hoại thai tạng (tức là tự mình phá thai); 8) bảo kẻ khác hủy hoại (tức là khuyên người khác phá thai) … Mười nghiệp kể trên mang lại quả báo đoản mạng.”

Ngoài ra, trong Kinh Phật Thuyết Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Tướng, Đức Phật nói:

“Nếu kẻ nào cố ý phá thai và thai bị chết, kẻ đó đã phạm tội không thể sám hối được vậy.”

Thật vậy, Hòa Thượng cũng có vì chúng sanh mà làm những buổi lễ siêu độ vong linh, nhưng Hòa Thượng chỉ nói một cách rất khiêm tốn rằng:

“Suốt đời tôi, tôi không bao giờ muốn tham gia việc chạy theo các lễ hội ‘tụng kinh, sám hối, Phóng Diệm Khẩu, Thủy Lục Không,’ bởi tôi không đủ đức hạnh–đạo không đủ để cảm động người, đức không đủ để giáo hóa người. Chính mình còn chưa siêu độ được mình, thì làm sao có thể đi siêu độ các vong hồn? Cho nên, tôi không dám ‘to gan’ đến thế!”

Nhưng ngày nay, không những chỉ có các “trung tâm siêu độ vong linh” mọc lên rải rác khắp nơi, mà còn có “giá cả” ấn định tùy theo tình hình nữa. Ngay cả người tại gia cũng tham gia hành “nghề” nầy. Những người chuyên môn lấy việc siêu độ để kiếm tiền này thực sự là hàng ngoại đạo trà trộn vào ăn bám cửa Phật vậy!

Hòa Thượng khai thị rằng:

“Bây giờ là thời kỳ Mạt Pháp, hàng ‘bạch y’ (‘những người mặc áo trắng’, tức là người tại gia) tùy tiện thọ nhận đồ cúng dường  của người khác. Người tại gia lại cũng tùy tiện tụng kinh cho người khác, làm lễ siêu độ cho người khác, thâu tiền của người khác, ‘dựa Phật mặc áo, dựa Phật ăn cơm’. Những kẻ tại gia mà lại có thể siêu độ người, thế thì ai sẽ siêu độ cho chính họ? Đừng nói là người tại gia, ngay cả người xuất gia mà tụng kinh, làm lễ sám, siêu độ vong linh để kiếm tiền, thì đều là có vấn đề cả!”

Có thể thấy rằng thời Mạt Pháp, hàng bạch y siêu độ cho người là điều hoàn toàn không “như Pháp,” bởi vì sức công đức tu hành của người tại gia dù sao cũng có giới hạn, không thể nào đắc lực bằng so với người xuất gia tu hành thanh tịnh.

Vả lại, nghĩa vụ của người tại gia là hộ trì Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, chứ không thích hợp để chủ trì Pháp hội siêu độ. Chính mình còn chưa độ thoát được sanh tử, thì làm sao mà cứu độ kẻ khác được chứ? Còn về vấn đề siêu độ chân chánh thì vẫn là khởi sự từ chính mình trước, rồi sau đó nương nhờ sự gia trì của Tam Bảo và đức hạnh của vị Thầy mới được.

Hòa Thượng khai thị nói:

“Không nóng giận, không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi và không nói dối – hãy làm một con người tốt, không làm các điều ác, chỉ làm những việc lành; thì cha mẹ và tổ tiên của quý vị tự nhiên sẽ được siêu độ.”

Qua đó có thể thấy rằng nếu chúng ta dụng công tu hành, không nóng giận, nỗ lực làm một con người tốt, thì một cách tự nhiên chúng ta sẽ có được vô lượng vô biên công đức. Và từ công đức đó, các vong linh sẽ đương nhiên được ích lợi mà giải thoát.

Trong Phẩm Nghi Vấn của Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn, có chép rằng:

“Niệm niệm không gián đoạn là ‘công’, tâm hành bình đẳng và ngay thẳng là ‘đức’. Lại nữa, tu tự tánh là ‘công’, tu tự thân là ‘đức’. Chư Thiện Tri Thức! Công đức phải thấy trong tự tánh, chẳng phải bố thí cúng dường mà cầu được!”

Chẳng nhất định là phải có tiền hoặc tụng vài bộ kinh mới có thể được ích lợi. Có câu: “Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ”, tức là chính ngay lúc tự độ đó là mình đang độ người rồi, ngay lúc độ người chính là đang tự độ vậy — hai bên chẳng có sự phân biệt ai trước ai sau.

Trong Phẩm Nghi Vấn của Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn, còn chép rằng:

“Các chúng sanh trong tâm ta là tâm tà mê, tâm cuồng vọng, tâm bất thiện, tâm đố kỵ, tâm ác độc,… các tâm như thế đều toàn là chúng sanh, mỗi mỗi phải tự tánh tự độ, đây gọi là chân độ vậy!”

Có lần có người thỉnh vấn Hòa Thượng rằng trong quá khứ mình đã giết hại hơn một vạn sanh mạng, như thế phải tụng Chú Vãng Sanh bao nhiêu biến mới hữu hiệu ?

Hòa Thượng trả lời:

“Nếu ông cắt đứt ái dục, thì chỉ trì một câu thôi thì sự linh ứng đã phi thường rồi; nếu ông chưa đoạn được ái dục, thì dù có tụng đến mười ngàn biến cũng chẳng công hiệu!”

“Đoạn dục” không gì khác hơn là dạy chúng ta hãy cắt đứt phiền não, dứt trừ vô minh, dẹp bỏ tất cả tư dục, ái dục, cùng tánh nóng giận. Nếu chúng ta có thể đoạn trừ tư dục và lòng tham lam, rồi lại đem cái tâm thanh tịnh để tụng Chú Vãng Sanh hoặc tụng kinh, thì đương nhiên sẽ có sự cảm ứng!

Trong quá khứ, Phật Giáo tại Trung Hoa thường khiến người ta có ấn tượng sai lầm, cho rằng đây là tôn giáo chuyên siêu độ vong linh người chết; và do đó Phật Giáo đã bị một số các phần tử trí thức bài xích, xem thường.

Hai năm trước khi nhập Niết Bàn, Hòa Thượng đã từng thiết tha kêu gọi:

“Phật Giáo tại nước Trung Hoa với các nghi thức Thủy Lục Không, Phóng Diệm Khẩu, làm Phật sự, siêu độ vong linh,… đã trở thành như một thứ ‘hình dáng tiêu biểu’ của Phật Giáo Trung Hoa. Họ không chịu ngừng lại để suy nghĩ rằng, nếu cứ tiếp tục như thế, họ sẽ dung dưỡng thành một đám dân lang thang vô nghề nghiệp, lây lất trong Phật Giáo để kiếm ăn! Thật đáng tiếc biết bao! Chỉ biết kiếm tiền bằng cách siêu độ vong linh!”

“Thật ra, để siêu độ được vong linh, quý vị cần phải có căn cơ, có đức hạnh. Nếu quý vị có đức hạnh thì đừng nói là tụng kinh hay niệm chú, chỉ cần quý vị phán một câu: ‘Hãy đi vãng sanh đi!’, thì cũng đủ cho vong linh đó được vãng sanh về thế giới Cực Lạc rồi! Còn nếu quý vị đã không có đạo đức, lại còn không có một sự hành trì gì cả, thì tôi hỏi quý vị, quý vị dựa vào cái gì để siêu độ vong linh? Có thể nói như thế là mắc món nợ này với thí chủ, đồng thời còn làm cho các chế độ căn bản của Phật Giáo không tồn tại được nữa!”

Đúng thế, Phật Giáo có được Tam Tạng Mười Hai Bộ Kinh – một bảo tàng trí huệ vô lượng vô biên như thế – thế mà người ta không chịu khai phát giáo nghĩa trong đó, chỉ toàn là dụng công hời hợt bên ngoài. Đây quả thật là một việc rất đáng tiếc!

Ngoài ra, trong Phật Giáo còn có vấn đề “đốt tiền giấy” nữa. Thật ra, tục lệ đốt tiền giấy mới bắt đầu có từ đời nhà Hán, theo như lời của Vương Du, một học giả đời Đường, nói rằng: “Từ nhà Hán trở đi, tang lễ có lệ chôn tiền; người đời sau dùng tiền giấy cúng cho ma quỷ”; có nghĩa là việc đốt tiền giấy trong tang lễ đã trở thành tục lệ. Bởi người Trung Hoa từ xưa đến nay đều tin rằng “con người chết rồi thì thành ma quỷ,” cho nên nghĩ rằng ma quỷ cũng cần tiền như loài người vậy. Thế nhưng, đến ngày nay thì việc đốt tiền giấy lại trở thành một công cụ để siêu độ vong linh.

Hòa Thượng dạy rằng:

“Tiền giấy một khi đem đốt thì thành tro; mà đã thành tro rồi thì làm sao có thể biết được nó còn có giá trị hiệu dụng hay không? Nếu nói rằng đốt rồi vẫn có hiệu dụng, như vậy người Tây Phương không đốt tiền giấy, thì chẳng lẽ họ đều trở thành những con ma nghèo xác nghèo xơ, phải đi xin ăn cả hay sao?!”

“Có câu: ‘Tây Phương không có quỷ nghèo, Đông Phương chẳng có thần giàu.’ Ma quỷ chỉ ăn cái ‘tánh’ của vật chất mà thôi; chứ chúng thật sự không cần tiền bạc và vật thực. Nếu quý vị có tiền, thì có thể dùng tiền đó làm việc công đức và hồi hướng cho vong linh; còn nếu mua những xe hơi giấy, máy bay giấy, lâu đài giấy, … để đốt thì quả thật là hồ đồ đến cực điểm vậy!”

Đến như việc dùng lửa để đốt tiền giấy, có thể là có liên quan với tôn giáo thờ thần lửa (hỏa giáo), tin tưởng rằng thần lửa có thể đem những đồ vật đã bị đốt thành tro chuyển giao cho quỷ thần.

Trong Ấn Độ Giáo Câu Phệ Đà, có vị thần A Kỳ Ni (kwerna -thần lửa) được cho là có khả năng nầy. Nói chung, trong Phật Giáo phải huỷ bỏ tập tục này thì mới tránh khỏi trở thành một thứ “doanh nghiệp trá hình” của bọn con buôn!

Phần Ba: Chay Thuần Khiết và Chay Giả Mặn

Cùng với sự gia tăng gần đây về số người ăn chay, đã xuất hiện thêm những tên món ăn mới lạ như gà chay, vịt chay, chim non chay, cá chay v.v…

Hòa Thượng đã nói như sau về vấn đề này:

“Những người ăn chay mà lại làm đồ chay giả thịt gà, giả thịt vịt hay giả cá …, vẫn không thể quên mùi vị của thịt và luôn luôn muốn thưởng thức mùi vị này, dù cho ăn đồ giả cũng để đỡ thèm. Trong Phật Giáo nhất định phải cải thiện thói quen này; nếu không cải thiện thì dần dần sẽ không còn người xuất gia nào ăn chay nữa!

Người ăn chay thì ngay cả cái tên ‘thịt gà, thịt vịt’ đều không nên đề cập đến, huống chi là nhìn ngó hình thù của loài súc sanh đó! Tôi hy vọng rằng mỗi Phật tử đều có được Trạch Pháp Nhãn, nhận ra nhân quả, và không bị vướng mắc trong nhân quả.”

Kinh Lăng Nghiêm có chép:

“Nếu nhân địa không chân thật, thì quả sẽ cong vạy.”

Mặc dầu những thức ăn này là những súc sanh giả, tuy nhiên, bên trong vẫn tồn tại mối liên hệ nhân quả hết sức vi tế.

Hãy xem quyển 6 của Kinh Lăng Nghiêm, trong đó Đức Phật có nói rằng:

“Này A Nan, Ta cho phép Tỳ Kheo ăn năm loại thịt thanh tịnh (ngũ tịnh nhục). Nhưng thịt này thật sự là do thần lực của Ta biến hóa ra, chứ căn bản không có mạng căn.

Các ông, những người Bà La Môn sống trong khí hậu quá nóng và ẩm, và trong vùng đầy cát và sỏi đá như vậy, rau cải không mọc được; do đó, Ta phải giúp cho các ông bằng thần thông và lòng từ bi. Do lòng từ bi to lớn nầy, những gì các ông ăn và nếm giống như thịt và gọi đó là thịt, song thật ra không phải vậy. Sau khi Ta nhập diệt, làm thế nào những kẻ ăn thịt của chúng sanh lại được gọi là đệ tử của Thích Ca ?”

“Năm loại tịnh nhục” này chỉ là do thần thông của Đức Phật biến hóa ra; chúng vốn không có mạng căn. “Vì địa phương nơi người Bà La Môn các ông sinh sống khí hậu quá nóng và đất đai lại nhiều sỏi đá, rau cải không sinh trưởng được, do đó Ta mới ‘huyễn hóa tạo thành’ năm loại tịnh nhục để các ông ăn” – đó cũng là trường hợp ăn ‘thịt giả’. Vì sao sau khi Phật diệt độ, những đệ tử bất tiếu của Ta đã ăn ‘thịt thật’ mà còn vọng xưng mình là đệ tử của Phật?!”

Phật có dự ngôn là sau này sẽ có đệ tử của Phật ăn thịt thật mà còn nói rằng đó là do Phật cho phép. Ngày nay các tiệm ăn chay khắp nơi dùng “thịt chay” như là một phương tiện để tiếp dẫn người ăn thịt trở thành ăn chay, nhưng như vậy họ có thể rơi vào vấn đề nhân quả “bất tịnh”, vì có sự nguy hiểm trầm trọng là sau khi ăn đồ giả một thời gian, người ta lại muốn ăn “đồ thật”!

Người ta không nên dồn năng lực vào chuyện thức ăn và đồ uống. Ăn no là đủ lắm rồi; không nên sanh tâm chấp trước vào hình dạng và mùi vị.

Ngoài ra còn có vấn đề người ăn chay có ăn trứng được hay không. Hay là những kẻ ăn trứng được gọi là “người ăn chay giả mạo” và những người không ăn trứng là “ăn chay thuần khiết”?

Mặc dầu đây là câu hỏi mà mọi người đều có ý kiến riêng bởi vì “khó cho vị quan thanh liêm phán đoán chuyện nhà, khó cho Tổ sư phán đoán chuyện tôn giáo”, chư Tổ và chư tôn đức phần lớn đều có thái độ không chấp nhận về vấn đề ăn trứng. Ví dụ,

“Ăn trứng không thích hợp vì nó có sinh mạng và có chất độc”.

“Ăn trứng thì không được! Những kẻ tà kiến nói rằng: ‘Trứng không có thụ tinh thì ăn được’, đừng có tin!”

“Ăn bất cứ thứ gì có tri giác thì không được. Người ta không nên ăn trứng vì mặc dầu chúng không có tri giác nhưng chúng có sanh mạng.”

Tại Thừa Thiên Thiền Tự, đạo tràng của Hòa Thượng Quảng Khâm, có quy định rõ:

“Cấm không được mang theo các loại thịt và thức ăn mặn, thuốc lá, rượu và trứng …”.

Hòa Thượng Sám Công ở Chùa Liên Nhân có nói trong một buổi thuyết pháp có thâu băng là “Không được ăn trứng gà.”

Và Hòa Thượng cũng có nói:

“Quý vị nói người ăn chay có ăn trứng thì không sao ư? Đợi đến khi quý vị mang thân gà, lúc đó quý vị sẽ biết đó chính là lý do, có thể lần ra manh mối trực tiếp từ việc ăn trứng gà. Một số Phật tử ăn ba loại tịnh nhục và một số hoàn toàn ăn thịt. Nếu quý vị tham ăn và thích ăn đồ bổ dưỡng, sao lại hỏi tôi ? Nếu quý vị muốn ăn trứng, thì đó cũng như ăn thịt.”

Phần Ba của Kinh Kim Cang có tựa “Đại Thừa Chánh Tông”, có chép rằng:

“Tôi phải làm cho tất cả chúng sanh – sanh từ trứng, từ thai bào, từ ẩm ướt, từ biến hoá… vào Niết Bàn vô dư để họ được diệt độ.”

Không lẽ trứng gà không phải là “sanh từ trứng” hay sao?

Trong Hiển Thức Luận có nói:

“Không thể ăn bất cứ loại trứng nào bởi vì trong đó có chủng tử”.

Thật ra chúng ta cũng không cần tìm hiểu xem trứng là chay hay không chay, mà chỉ cần suy nghĩ về vấn đề này: Người ta có thể không ăn thịt gà, thit vịt, tôm, cua, hải sản .. vậy mà chỉ một món trứng mà “không thể bỏ” hay sao? Ngoài ra, nếu một người ăn trứng đều đặn (không ăn gì ngoài trứng), thì e rằng sau một tuần lễ cơ thể người đó sẽ bị nhiễm độc. Mặt khác nếu một người uống sữa (không có gì ngoài sữa), không phải chỉ một tuần, cho dầu đến một tháng, người đó vẫn bình an vô sự. Nếu quý vị không tin, thì cứ thử đi! Vấn đề không phải ở điểm trứng là chay hay mặn, mà là lòng tham lam đằng sau sự tham ăn của chúng ta.

 

Phần Bốn: Khí Công và Tà Chánh

 

Ngày nay cả thế giới đều nói về khí công. Và sự nhiệt tình về khí công là một “ngành nghề mới”. Có những kẻ xấu làm cho khí công trở thành “tà khí”, bởi vì “khi người chánh thực hành tà pháp, tà pháp trở thành chánh; khi người tà thực hành chánh pháp, chánh pháp trở thành tà.” Khí công trở thành công cụ “kiếm tiền” và “phát thần thông”. Bởi vì đã đi xa chánh đạo, khí công trở thành một loại quỷ công.

Hòa Thượng đã nhận định về khí công như sau:

“Khí công” là một danh xưng không phù hợp. “Khí” là không có tri giác cho nên nó căn bản không có “công”, vì thế phải gọi là “thần công,” ‘quỷ công,” “ma công”, hoặc “yêu công”.

“Thần công” tức là “thần nhi minh chi, tồn hồ kỳ nhân”, có nghĩa là trong khi bảo trì chánh niệm, dùng tinh thần để cho thần sử dụng năng lực của mình. Do đó gọi là “thần công”. Nhưng “thần công” vẫn liên hệ đến ý thức và chưa đến cảnh giới biến hóa rốt ráo; người đó vẫn còn chấp tướng.

“Thần công” là thần chi phối khí, không phải khí chi phối thần. Khi thần công đến, người đó không nhảy lên nhảy xuống hoặc chạy lung tung, cũng không nói năng bừa bãi. Thần công tương đối hiền hòa. Khi “quỷ công” đến, người đó nhảy nhót, run rẩy, khóc cười vô lối. Đó là một “ngũ quỷ ban vận pháp” (phép vận chuyển năm con quỷ). Mấy con quỷ được thả lỏng và nhập vào thân người, làm người đó nói năng bậy bạ, bởi vì quỷ công vốn không có định tính và định lực.

Còn “ma công” và “yêu công” thì đều chẳng biết lý lẽ, luôn kiêu ngạo và gây hại cho người, chuyên hành dâm dục, và tất cả bọn chúng là hiện thân của yêu ma quỷ quái.

Những người có “khí công” chân chánh thì không nhảy nhót, khóc lóc kêu la, cũng không tham giàu có hưởng thụ hoặc tìm cách rêu rao quảng cáo.

Hòa Thượng không phản đối khí công, chỉ khai thị rằng chúng ta cần phải có nhận thức chân chánh, cần phải có “Trạch Pháp Nhãn” (con mắt biết chọn pháp). Điều nầy nói lên rằng:

“Thần công, quỷ công, ma công, yêu công – đều gọi là khí công. Bởi có chân, có giả, có chánh, có tà, nên cần có Trạch Pháp Nhãn”.

Về vấn đề có liên quan đến “ngoại đạo trong Phật Pháp” (3), đa số đoàn thể Phật Giáo không muốn công khai phân biệt tà và chánh, điều này giúp cho những kẻ “không chân chánh trong Đạo Phật và những hàng ngoại đạo” lợi dụng ngày một nhiều hơn. Với ý xấu và xảo quyệt, họ lừa gạt tiền bạc của kẻ khác và lừa người khác phạm những hành vi dâm dục – trong khi vẫn mặc áo của Phật và ăn cơm của Phật.

Tôi sẽ nêu ra hai vị có tên tuổi, được nhiều người biết đến để làm thí dụ. Một vị là nữ ni sư đạo Sikh ở Ẩn Độ. Bà ta tự xưng là “Phật tái thế”, đã khai ngộ và đi truyền bá “Pháp môn Quán Âm–tức khắc khai ngộ, một đời giải thoát”.

Hòa Thượng đã nghiêm khắc chỉ trích:

“Nhiều kẻ bị bà ta làm cho lầm lạc chỉ vì tham lam. Khi quy y Tam Bảo, bài văn trong buổi lễ có nói rất rõ ràng: ‘Con thà xả bỏ thân mạng nầy, quyết không quy y với thiên ma ngoại đạo.’

Những điều bà ta nói ra đều là tà thuyết của thiên ma ngoại đạo, và tất cả đều nhằm mục đích dối gạt người; nếu quý vị tin những điều đó, quý vị thật ngu xuẩn, vô tri, và quý vị tự đào đường chui xuống địa ngục.”

Thật là một lời mạnh mẽ: “Tự đào đường chui xuống địa ngục!” Hòa Thượng không nói những lời “như đúng mà lại sai” (tự thị nhi phi). Ngài luôn luôn “chỉ thẳng tâm người”, dùng lời nói bộc trực mà ngắn gọn, đích đáng (4), đểcó thể phá tan vô minh và mê lầm của chúng sanh.

Trong Kinh Lục Tổ (Kinh Pháp Bảo Đàn), phẩm “Cơ Duyên” có chép:  

“Từ Đức Phật Oai Âm Vương về trước thì có thể được; từ Đức Phật Oai Âm Vương về sau, không Thầy mà tự ngộ thì toàn là thiên nhiên ngoại đạo.”

Câu này có nghĩa là trước thời của Oai Âm Vương (vị Phật đầu tiên) thì có thể được (tự mình khai ngộ); thế nhưng, từ sau thời của Oai Âm Vương, nếu không được một vị Thầy nào trao truyền Pháp môn và ấn chứng cho, mà lại tự mình ấn chứng cho rằng mình đã khai ngộ, thì đó đều là ngoại đạo thiên nhiên.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, phần Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối, Đức Phật có nói rằng:

“Cớ sao bọn trộm cắp kia lại mượn sắc phục của Ta, mua bán Như-Lai, lại nói rằng mọi nghiệp tạo ra đều là Phật Pháp? Chúng phỉ báng người xuất gia và xem các thầy Tỳ-Kheo đã thọ Cụ-túc Giới là hàng Tiểu-thừa. Do sự nghi ngờ và ngộ nhận mà vô lượng chúng sanh phải đọa địa ngục Vô-gián.”

Hòa Thượng có làm một bài thơ thật lý thú như sau:

Hồ đồ dạy hồ đồ,
Một dạy hai chẳng hiểu,
Sư phụ đọa địa ngục,
Đệ tử cũng xuống theo.

Đây chính là những kẻ “phù Phật Pháp ngoại đạo,” giả mượn danh nghĩa Phật Giáo để đi khắp nơi kiếm tiền, phan duyên, đem Phật Pháp ra mà buôn bán đổi chác. Họ cho rằng hút thuốc, uống rượu, cờ bạc, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ … đều là Phật Pháp, mà chẳng biết giới luật là gì cả; thế là vô lượng chúng sanh bị mê lầm, ngộ nhận, phải đọa địa ngục Vô-gián.

Còn vị kia là “Thượng Sư,” tự xưng là “Liên Sanh Hoạt Phật” (Phật Sống sanh từ hoa sen) với “thần thông quảng đại,” mà lại ăn thịt, uống rượu, và trêu ghẹo phụ nữ. Hòa Thượng đã phê phán về vị này như sau:

“Ôi thời Mạt Pháp ! Thời Ác thế !
Chúng sanh phước bạc khó điều phục.
Hiền thánh cách xa, tà kiến sâu,
Ma mạnh, Pháp yếu, nhiều ác hại.
Nghe pháp Đốn Giáo của Như Lai,
Hận chẳng phá nát như đập ngói.

(Chứng Đạo Ca)

Trong thời Mạt Pháp, tà chánh bất phân, người ta không phân biệt được tà với chánh, song quý vị chỉ cần xét xem: Người đó có còn tâm tham, tâm tranh, tâm mong cầu, tâm ích kỷ, tâm tự lợi hoặc tâm nói dối hay không? Người đó có suốt ngày suốt đêm nói dối, lừa gạt người khác hay không? Tôi không biết người này là ai. Tôi chỉ gọi đó là một con quỷ.”

Những thiên ma và ngoại đạo này đều là sự biến hiện của Ngũ Thập Ấm Ma–năm mươi loại ấm ma được giảng trong Kinh Lăng Nghiêm. Nếu người ta có thể quen thuộc với nội dung của phần Ngũ Thập Ấm Ma, thì người ta sẽ không bị  lầm lạc lúc tu hành. Ví dụ, trong phần Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Bốn Lời Răn Dạy về Tánh Thanh Tịnh) trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy:

“Sau khi Ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp, sẽ có nhiều thứ yêu tà ấy hiện ra đông đảo ở thế gian, âm thầm lừa dối mọi người, xưng là bậc Thiện-tri-thức, và kẻ nào cũng tự nói là đã đắc Thượng-nhân Pháp. … Họ chưa đắc mà nói đắc, chưa chứng mà nói chứng .. Hạng Nhất-điên-ca (nhất xiển đề) này làm tiêu diệt Phật chủng. ”

Ở đây là nói về những kẻ ngoại đạo này. Tất cả bọn họ đều tự xưng rằng họ đã giác ngộ rồi. Chưa được bất cứ sự chứng nhận giác ngộ nào, họ lại nói rằng họ đã được chứng ngộ; chưa đắc Đạo, họ lại nói là họ đã đắc Đạo. Những người nói ra những điều dối trá (đại vọng ngữ) này đã hủy hoại hạt giống của Phật. Họ đã vĩnh viễn tự cắt đứt thiện căn của chính mình!

Ngoài ra, trong quyển trung của Kinh Phật Tạng, Đức Phật tiên đoán rằng vào thời Mạt Pháp, các ác ma sẽ dùng hình tướng Sa Môn và sẽ dạy chúng sanh thuyết tà đạo. Trong Kinh có nói rằng:

“Xá Lợi Phất! Các ác ma bây giờ ẩn trong thân của những kẻ giúp ông Điều Đạt (tức Đề Bà Đạt Đa) để phá Ta (Đức Phật), Pháp và Tăng. Bởi vì Như Lại với đại trí tuệ còn ở trên thế gian, những quỷ ma xấu xa đó không thể thành công khi làm việc đại ác. Trong tương lai, ác ma sẽ mang hình tướng Sa Môn (người xuất gia), vào Tăng Đoàn, và nói đủ loại tà thuyết, làm cho nhiều người trở thành tà nhân và nói tà pháp…”

Đức Phật tiên đoán những điều như vậy sẽ được tạo nên để phá hoại Phật Pháp và sẽ xảy ra vào thời kỳ Mạt Pháp.

Vào thời Mạt Pháp, vì phước báo của chúng sanh quá cạn cợt và trí tuệ của chúng sanh chỉ có trên bề mặt, rất nhiều “ma Tăng” sẽ “đến thế gian để cứu chúng sanh” (chuyển thế độ chúng). Giả danh là Phật Giáo, họ tuyên truyền tà pháp trên mức độ rộng lớn, đưa chúng sanh vào làm “quyến thuộc” của họ. Làm sao không đau buồn cho được! (5)

Vị cao tăng thời cận đại là Hòa Thượng Hư Vân có lần nói:

“Đây là thời Mạt Pháp. Ở đâu quý vị có thể tìm thấy bậc Thiện Tri Thức? Tốt nhất là nên đọc Kinh Lăng Nghiêm cho tới khi quý vị quen thuộc thông suốt. Đến lúc đó sự tu hành của quý vị sẽ an toàn và quý vị có cơ hội được độ thoát. Bằng cách chận đứng các tà duyên, thân tâm quý vị có thể nhập Phật tri kiến và khi được như vậy, quý vị sẽ không đi sai đường!”

Quý vị thấy chư Tổ đã nhấn mạnh như thế nào về Kinh Lăng Nghiêm! Bộ kinh này là tấm “kính chiếu yêu” để dùng cho việc tu hành, và cũng là một bộ kinh mà mọi đệ tử Phật nên dùng mồ hôi và máu của mình để hộ trì!

Để có thể phân biệt giữa Phật và ma, giữa tà và chánh, Hòa Thượng đã có lời khuyên rất rõ ràng:

“Nếu quý vị có thể ngăn ngừa, không bị dính mắc với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, cảm thọ, và pháp; thì những ấm ma này không thể làm gì quý vị được cả. Nếu quý vị không có mảy may tham, sân, hay si, thì quý vị sẽ thắng được những ấm ma này. Nếu quý vị không có chút gì ích kỷ, tư lợi, cũng chẳng hề tranh giành, tìm cầu, thì không ma quỷ nào có thể làm gì quý vị được cả!.”

Thật ra, Phật và ma chỉ hiện hữu trong một niệm. Nếu một người không có tâm niệm tham lam, tìm cầu, ích kỷ, tư lợi và dối trá thì những loại ma quỷ này sẽ không hiển hiện. Có câu rằng:

“Khi trong nhà có quân tử, thì quân tử sẽ tìm đến,
Nếu trong nhà có tiểu nhân, thì tiểu nhân sẽ thân cận.”

Đó cũng chính là đạo lý ”vạn pháp duy tâm tạo”. Hòa Thượng có bài kệ:

“Tánh định, ma phục ngày ngày vui.
Vọng niệm không khởi chốn chốn an.
Tâm dừng niệm dứt, thật phú quý.
Đoạn hết dục niệm, thật phước điền.”

Đó là phương pháp tốt nhất để hàng phục tất cả ma quỷ!

Tôi hy vọng rằng tất cả [sinh viên] học nhân chúng ta đều có thể “ma đến, chém ma; Phật đến, chém Phật”. Tất cả các thiện pháp và tất cả các ác pháp đều hiện hữu bởi vọng tưởng của chính chúng ta. Chúng ta nên không trụ vào đâu cả (ưng vô sở trụ). Cần nên “nếu không nghĩ là mình chứng thánh thì đó là cảnh giới tốt; nếu nghĩ mình chứng thánh, thì rơi vào cảnh giới của loài ma.”

 

Phần 5: Quy Y và Phong Bì Đỏ

 

Trong những Phật tử Á Đông đã quy y, có một sự hiểu lầm rất phổ biến : Mọi người đều nghĩ rằng quy y với càng nhiều Thầy thì càng tốt ! Đây là một dấu hiệu của thời kỳ Mạt Pháp. Do quy y với Thầy này, rồi quy y với Thầy nọ, họ gây ra sự tranh chấp giữa các vị Thầy vì tranh cãi lẫn nhau xem ai là người có duyên Phật Pháp và có được những người đệ tử đó. Nhưng Hòa Thượng luôn luôn yêu cầu những người đã quy y rồi thì đừng ghi danh quy y nữa – họ chỉ cần theo đại chúng và tùy hỷ.

Một vị cao tăng đương thời là Đại Sư Ấn Quang cũng có nói rằng trong việc quy y, các thành viên của Tăng Đoàn là đại diện cho Phật để truyền Tam Quy Y. Vị Thầy hiện diện đó chỉ là chứng minh sư, người Phật tử quy y không phải là quy y với vị Thầy này. Điều này có nghĩa là chúng ta thật sự nên đặt câu hỏi là: “Ai là vị Thầy chứng minh việc truyền Tam Quy Y cho quý vị ?” thay vì hỏi rằng:  “Quý vị quy y với ai ?”

Hòa Thượng nói:

“Có người nói rằng: ‘Thiện Tài Đồng Tử thăm viếng năm mươi ba vị (thầy), như vậy tại sao tôi không thể lạy thêm nhiều vị thầy nữa ?’.

Nhưng quý vị cần nhận thức rằng Thiện Tài Đồng Tử luôn luôn được thầy cũ gởi đi đến vị thầy kế tiếp. Đó không phải là do lòng mong muốn tham lam có được vị thầy khác có đủ đức hạnh hơn, rồi quay lưng với vị thầy hiện tại của mình và lén lút quy y với vị thầy khác. Rất nhiều Phật tử cao niên người Trung Hoa đã quy y tới hàng chục hay hàng trăm lần. Nhưng khi quý vị hỏi họ ‘quy y’ có nghĩa là gì, thì họ không biết. Như vậy không đáng thương hay sao ? Họ nói rằng tất cả người xuất gia là thầy của họ. Nhưng tôi lại cho rằng họ không có một vị thầy nào cả, bởi vì tâm họ thiếu lòng tin, như vậy thì làm sao họ được cứu độ ?

Con người cần phải có lòng tin để được cứu độ. Đừng nói rằng: ‘Có lẽ lần trước lúc tôi quy y, chư Phật không để ý đến, do đó tôi nên quy y thêm lần nữa cho chắc ăn!’”

Khi đề cập về vấn đề phong bì đỏ, từ trước đến nay Hòa Thượng đều một mực phản đối tập tục này. Bởi vì trong đó có tính chất lừa dối–không ai biết trong phong bì đỏ đó đựng bao nhiêu tiền. Đối với những Phật tử ở Á Châu, quy y và phong bì đỏ có liên hệ với nhau. Trong trường hợp như vậy, những người không thể có phong bì đỏ và những người ngoại đạo sẽ không dám tin Phật và quy y. Hòa Thượng nói:

“Trong Kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử giữ một vị trí rất quan trọng, đồng thời cũng mang lại sự ảnh hưởng phức tạp cho Phật Giáo Trung Hoa. Hầu hết các Pháp Sư biết rất rõ ràng rằng việc một người quy y với rất nhiều thầy khác nhau là không đúng. Điều đó không phù hợp với Phật Pháp. Nhưng nếu không để điều đó xảy ra, ‘phần’ (phong bì đỏ) của họ sẽ giảm đi đáng kể. Do đó, cho đến hôm nay, không có ai công khai phản đối tập tục này. Biết rất rõ ràng điều đó là sai, mà người ta vẫn làm. Thật phức tạp, có phải không? Tại sao? Thứ nhất là vì ‘đồng tử’ (lôi kéo tín đồ), và thứ hai là vì ‘Thiện Tài’ (để được phần phong bì đỏ). Đây là tập tục tệ hại nhất trong Phật Giáo!”

Sự hiểu biết chân thật và cái nhìn rõ ràng của Hòa Thượng rất khác biệt so với đa số. Biết bao là lòng từ bi đằng sau tiếng “sư tử hống” của Hòa Thượng, Ngài lên tiếng vì Ngài “không đành nhìn giáo pháp của thánh nhân bị suy đồi”.

Rất nhiều “Đạo sư tài tử” (minh tinh sư phụ) ở Á Châu, được đệ tử của họ đưa lên đài cao, đã hoàn toàn quên mất trách nhiệm “gánh vác gia nghiệp của Như Lai, cứu độ và giáo hóa chúng sanh” của chính mình. Mỗi ngày họ ngụp lặn, say sưa trong danh vọng, lợi lộc và quên bẵng vấn đề lớn sinh tử.

Thật ra, khi các đệ tử của Tam Bảo gặp những vị thầy xuất gia thì họ nên thỉnh hỏi về Phật Pháp, không nên chỉ một mực cúng dường phong bì đỏ. Tại các nước như Thái Lan, Tích Lan v.v.., người tại gia chỉ cúng dường thực phẩm cho Tam Bảo. Bên cạnh đó, Đức Phật chế định các Tỳ Kheo chỉ được dùng một bữa ăn lúc giữa trưa trong ngày, và không cho phép họ dùng bình bát để quyên tiền.

Trong quyển bảy của Kinh A Hàm, Đức Phật nói:

“Này các Sa Môn, Thích tử! Cất giữ vàng, tiền bạc hoặc đồ quý giá đều không phải là Pháp của Sa Môn, đệ tử của Thích Ca. Nếu ai có giữ vàng, tiền bạc, hoặc những đồ vật quý giá, thì người đó không phù hợp với Pháp của Sa Môn, Thích tử.”

Do đó, đi quyên tiền (hóa duyên) không phải là phương pháp tu hành của người xuất gia. Trong quyển 54 của Tứ Phần Luật, Đức Phật đã bảo Trưởng Giả Châu Man:

“Các Sa Môn, đệ tử của Thích Ca, không nên cất giữ vàng bạc; họ nên cho đi châu báu của họ, và không mang đồ trang sức. Bất cứ người nào cất giữ vàng bạc cũng sẽ bị dính mắc vào ngũ dục, như thế, họ không theo Pháp của Sa Môn, đệ tử Phật.”

Có ai nghĩ rằng ngày nay, trong thời kỳ Mạt Pháp, có những kẻ xuất gia dùng bình bát để xin tiền! Việc này đã có tác dụng hủy hoại thanh danh của Phật Giáo và sự tu tập hành trì của Tăng chúng, đặc biệt là hiện nay, khi có những người giả làm người xuất gia đi xin tiền để phá hoại Phật Pháp. Nếu Tăng chúng không mang bình bát đi xin tiền, thì chắc chắn sẽ không có người nào “chịu khổ” để giả dạng thành các vị tăng, ni. Do đó, Hòa Thượng khuyến khích đệ tử của Ngài giữ giới “không giữ tiền” càng nhiều càng tốt, và tránh “kết duyên” với tiền bạc càng nhiều càng tốt. Hòa Thượng nói:

“Bởi vì người xuất gia có thể tu hành được nếu họ không có tiền. Một khi họ có tiền, họ chắc chắn sẽ không tu hành được. Tôi dám bảo đảm điều đó!

Quý vị hãy nhìn xem, hãy nghiên cứu đi! Các Đạo sĩ thì tự xưng là ‘bần Đạo’ ; Tăng nhân thì gọi mình là ‘bần Tăng’. Không ai nói đến ’phú Tăng’ hay ‘phú Đạo’. Do đó, khi quý vị cúng dường tiền bạc cho ‘phú Tăng’ hay ‘phú Đạo’, thì cũng giống như quý vị tạo tội. Tôi sẽ làm phiền lòng nhiều người khi nói lên điều này. Nhưng dù tôi có ‘đắc tội’ với quý vị đi nữa, thì tôi cũng phải nói lên sự thật!”

Một vấn đề nữa đang xảy ra trong Phật Giáo hiện nay là cái gọi là “pháp làm giàu” (phát tài pháp). Hòa Thượng nghiêm khắc và thẳng thắn về vấn đề này:  “Không có Pháp nào như thế để làm giàu trong Phật Giáo.”

Đại Sư Vĩnh Giác có nói trong Chứng Đạo Ca:

“Đệ tử Thích Ca xưng mình nghèo;
Thật sự thân nghèo, Đạo chẳng nghèo.
Nghèo mới thân thường áo thô vá;
Đạo chứa trong tâm–ngọc vô giá.”

Đó là nói về “bần Tăng” (sư nghèo) trong Phật Giáo. Chữ “phú Tăng” (sư giàu) không hiện hữu. Bởi vì họ là “bần Tăng”, làm sao họ có thể truyền “phép làm giàu” (phát tài pháp)? (và họ đã làm cho người khác lầm lạc bằng cách nói rằng đó là pháp phương tiện của Đức Phật trong khi thật ra hoàn toàn không phải!). Nhận định của Hòa Thượng là:

“Quý vị phải xem xét cẩn thận bất cứ người nào dạy kẻ khác ‘pháp làm giàu’, để xem chính người đó có giàu thật hay không. Nếu người đó giàu thật, thì vì quý vị muốn giàu cho nên quý vị đã đưa tiền bạc của mình cho người đó. Vì vậy mà người đó có tiền.

Cũng giống như đầu tư vào chứng khoán, quý vị phải mua cổ phiếu trước khi có thể làm ra tiền. Vì thế, trước tiên, quý vị phải ‘cúng dường’ cho người đó – có thể là một ngàn, hoặc mười ngàn, hoặc một trăm ngàn- để rồi sau đó tủ sắt của quý vị sẽ được đầy tiền và sẽ phát ra ánh sáng màu đỏ, có phải vậy không? Hoặc ánh sáng màu vàng? Hay ánh sáng màu đen? Nếu đó không phải là sự lừa đảo chuyên nghiệp thì là cái gì? Bởi vì tôi không bao giờ truyền ‘pháp làm giàu,’ tôi công khai bí mật này ra.”

Phật Giáo là một giáo pháp cao thượng, chắc chắn không ngừng lại với “phong bì đỏ” kèm theo danh vọng, lợi lộc. Phật Giáo cũng không ngừng lại với những “Pháp hội” đi cùng với việc cứu độ vong linh. Chư Phật và những bậc đại trí muốn chúng sanh hiểu rằng thế gian là vô thường, và người ta cần dẹp bỏ tham sân si. Làm sao mà chư Phật, chư Bồ Tát lại bị giáng xuống ngang hàng với các vị thần linh để người ta đến “tìm cầu phú quý, thăng quan tiến chức” ? Đó không phải là hối lộ hay sao ? Như vậy thì thứ Phật Giáo đó có khác gì các tôn giáo dân gian và thần giáo của Tây phương ?

 

Phần Sáu: Luôn Mặc Áo Giới và Ăn Ngày Một Bữa

 

Mọi người đều biết rằng “đắp giới y và ăn ngày một bữa” là gia phong mà Vạn Phật Thánh Thành hành trì và được đặc biệt biết đến. Hòa Thượng đặc biệt tuyên bố rằng bất cứ người nào xuất gia với Ngài cũng đều phải tuân thủ những quy định của Đức Phật: “Ngày ăn một bữa lúc giữa trưa và luôn luôn mặc áo giới.” Và, cho dù Vạn Phật Thánh Thành có bị những kẻ bên ngoài chỉ trích như thế nào đi nữa, ngay cả phỉ báng rằng Thánh Thành cố ý làm những việc mới lạ để phô trương, thì Hòa Thượng vẫn không bao giờ vì thế mà thay đổi gia phong. Đối với một loạt những lời phỉ báng, Hòa Thượng chỉ nói:

“Đây không phải là những quy luật do tôi đặt ra. Đây là quy luật của Phật. Chúng ta cần phải tuân thủ quy luật của Phật.”

Tuy vậy, đối với những đệ tử xuất gia tương đối lớn tuổi, Hòa Thượng đã phương tiện cho phép họ ăn ba bữa mỗi ngày. Quy định này vẫn được giữ nguyên ngay cả trong lời di huấn của Hòa Thượng trước khi Ngài nhập Niết Bàn, không hề sửa đổi. Chính Hòa Thượng đã nói:

“Ngay cả trước khi tôi xuất gia, lúc còn là người tại gia, tôi đã ăn ngày một bữa. Và từ khi tôi xuất gia đến nay, trải qua bao nhiêu năm trời, tôi vẫn chỉ ăn ngày một bữa. Những người muốn xuất gia với tôi, người nào mà có thể ăn ngày một bữa, thì tôi sẽ thâu nhận; nếu  không thể ăn ngày một bữa, thì tôi sẽ không thâu nhận. Đây là điều kiện thiết định cho những ai muốn xuất gia với tôi; dù dưới bất cứ áp lực nào, do thời gian hay hoàn cảnh, đều không thay đổi.”

Tại sao Hòa Thượng xem việc “ăn ngày một bữa” quan trọng như vậy ? Bởi vì, con người “khi bụng no thân ấm, thì nghĩ về dâm dục”. Càng no đủ, thì càng nhiều dục vọng. Vấn đề này đã được thảo luận (Kinh Trường A Hàm, quyển 22, “Phẩm Ghi Chép Về Thế Giới: Nhân Duyên Căn Bản Của Thế Giới”) và có ghi lại:

“Những chúng sanh cõi trời Quang Âm khi hết phước báo và bị đọa xuống nhân gian, thì họ bắt đầu ăn cơm, thân thể trở nên thô kệch, xấu xí và mang tướng nam, tướng nữ. Họ nhìn ngó lẫn nhau rồi sanh khởi dục niệm và họ đi đến nơi kín đáo để làm hạnh bất tịnh.”

Và, có câu thành ngữ Trung Hoa nói rằng:  “Đồ ăn uống sanh ra nam nữ.” Điều này chứng minh rằng dâm dục là từ sự ẩm thực quá lượng mà ra. Và nếu đó là việc “ăn phi thời,” thì đó là vấn đề phá giới.

Một số người xem vấn đề này như sau: “Hiện tại không phải là thời đại của Đức Phật và chúng ta cũng không phải đang ở Ấn Độ ; người Trung Hoa lại không phải là người Ấn Độ, mà giới luật được đặt ra là ’tùy thời, tùy nơi, tùy người‘, như vậy những giới đó chỉ có thể áp dụng cho những người ở tại Ấn Độ chứ không thích hợp cho người ở tại Trung Hoa.”

Thật ra điều đó không đúng vì, trong Phật Giáo, giới luật là một trong Tam Vô Lậu Học gồm Giới, Định, Huệ, và tất cả đều đã được chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng. Nếu nói rằng Giới Học không thích hợp cho người Trung Hoa, như vậy có nghĩa là Định Học và Huệ Học cũng không thích hợp cho người Trung Hoa hay sao? Thật là phi lý!

Không ăn phi thời là hạnh nguyện mà người xuất gia phải giữ và là điều kiện tiên quyết của việc cạo đầu xuất gia. Hơn nữa, trong Bát Quan Trai Giới của người tại gia cũng có bao gồm giới “không ăn phi thời”. Do đó đây là vấn đề giới luật có được nghiêm trì hay không. Ngoại trừ khi bị bệnh, không có lý luận nào có thể chấp nhận được.

Thêm nữa, trong Kinh Xứ Xứ có liệt kê năm loại phước đức có được do không ăn sau giờ ngọ:

  1. “Ít dục vọng (thiểu dâm);
  2. Ít ngủ (thiểu thùy);
  3. Tâm định (đắc nhất tâm);
  4. Không bị vấn đề đầy hơi trong bụng (thiểu hạ phong);
  5. Thân thể yên ổn và không bệnh (thân đắc an ổn diệc bất tác bịnh).”

Từ đó chúng ta có thể thấy rằng không ăn sau giờ ngọ thì có thể được phước. Ngoài ra trong Luận Đại Tỳ-Bà-Sa cũng cho rằng:

“Không ăn sau giờ ngọ làm bớt ngủ mê, giảm đi vấn đề giữ thức ăn qua đêm, giúp tâm dễ nhập Định, và do có những lợi ích như vậy, nên chỉ ăn vào lúc giữa trưa.”

Trong Kinh Trường Trảo Phạm Chí Thỉnh Vấn có nói:

“Lý do bốn mươi cái răng của Như Lai đều sạch, trắng và thẳng tắp là do sự nghiêm ngặt tránh ăn phi thời mà Ngài đã thọ trì trong những kiếp trước.”

Và trong Kinh Xá-Lợi-Phất Vấn, Đức Phật đã nghiêm khắc khuyên Tôn giả Xá Lợi Phất rằng:

“Những người ăn phi thời là những kẻ phá giới, là những kẻ ăn cắp, là những kẻ sẽ chịu khổ điên loạn vì họ đã phá hoại thiện quả và họ không phải là đệ tử của Ta. Họ ăn cắp lợi ích của Pháp của Ta, họ ăn cắp danh tiếng, họ ăn cắp thực phẩm, một chút chỗ này, một chút chỗ kia; một chút muối, một chút giấm, và sau khi chết, họ sẽ bị đọa địa ngục Thiêu Ruột và mọi thứ đều trở thành viên sắt nóng đỏ.”

Trong Kinh Tỳ-Ni Tam Muội có giải thích như sau:

“Buổi sáng là giờ chư thiên ăn, buổi trưa là chư Phật ăn, buổi chiều là súc sanh ăn, và buổi tối là giờ quỷ thần ăn. Ngày nay, để tạo nhân duyên cho sự thoát ly sáu nẻo và noi gương chư Phật ba đời, việc ăn vào lúc giữa trưa được xem là đúng lúc để ăn (chánh thời).”

Vì thế, ngay thời bây giờ, tại Ấn Độ và các quốc gia mà ở đó Phật Giáo Nam Truyền thịnh hành, giới điều không ăn sau ngọ của Đức Phật vẫn còn được thọ trì.

Nhưng tại quốc gia của tôi [Trung Hoa], hầu hết chư tăng Trung Hoa đã khai mở giới điều này, họ gọi bữa ăn chiều là “thuốc” (dược thạch) và tùy ý thọ dụng. Hòa Thượng không đồng ý chuyện này. Hòa Thượng nói rằng:

“Trong khóa Thiền thất, quý vị cũng đã được học về ‘khóa ăn’ Trung Hoa là như thế nào rồi–đó là ba thời trà và bốn thời cơm, ngoài ra còn có thêm món bánh bao vào thời khuya nữa. Tôi không tin rằng quý vị ăn uống như vậy mà vẫn có thể dụng công được! Tôi ngày ăn một bữa mà đã cảm thấy rắc rối, phiền phức lắm rồi; vậy mà, nếu ăn bốn bữa cơm và thêm bữa bánh bao vào buổi tối nữa thì sẽ như thế nào?!

Trong Phật Giáo Trung Hoa, người ta  gọi bữa ăn tối là gì ? Họ gọi đó là ‘dược thạch’ (thuốc, đá), tức là họ xem bữa ăn tối như thuốc vậy  (6). Cho nên, họ nói rằng đó chẳng qua chỉ là liều thuốc để trị bệnh mà thôi! Đó gọi là ‘bịt tai ăn cắp chuông’. Đó chính là lừa mình, dối người. Bởi vì họ muốn ăn tối, nên họ gọi thức ăn tối là ‘thuốc’!!! Phật Giáo Trung Hoa là như thế. Đó là thứ Phật Giáo lừa gạt, thứ Phật Giáo lừa dối người – tôi không có cách nào cải chánh lại được!”

Về ý nghĩa của chữ “dược thạch,” trong quyển 18 của Huyền Ưng Âm Nghĩa có chép:

“Dược thạch (nghĩa thường: thuốc và đá) là thứ dùng để chữa bệnh. Người xưa dùng đá làm kim châm, ngày nay thì người ta dùng sắt. Tất cả đều nhằm mục đích chữa bệnh.”

Trong quyển một của Phật Đình Sự Uyển, Phần La-Hán Dược Thạch, có nói rằng:

“Ăn thức ăn để chữa bệnh, và đó gọi là ‘thuốc’ (dược thạch) “.

Trong Thiền Lâm Tượng Khí, Phần Ẩm Đạm Môn, có nói như sau về dược thạch:

“Thuốc (dược thạch) là ẩn ngữ để chỉ món cháo dùng vào buổi tối. Bởi vì cháo dùng vào buổi tối nhằm bồi bổ cơ thể và chữa bệnh tật để hành giả có thể tiến bộ trong sự tu tập của mình, do đó gọi là thuốc (dược thạch)”.

Từ đó có thể thấy rằng danh từ “dược thạch” (thuốc) chỉ là một tên khác để chỉ “bữa ăn tối” được Phật Giáo Trung Hoa phát minh ra mà thôi!.

Nói chung, mặc dầu Đức Phật, Đấng Thế Tôn, đã loại bỏ một số giới điều nhỏ trước khi nhập Niết Bàn, nhưng giới không ăn phi thời thì không bỏ được. Quyển 15 của Kinh Tạp A Hàm nói rằng:

“Khi người nào biết giảm thiểu ăn uống ‘cuốn thành miếng’ (đoàn thực) (7) lúc phi thời, người đó sẽ có được công đức của sự đoạn trừ tham ái ngũ dục. Trong những đệ tử đa văn và thánh thiện có công đức giảm thiểu tham lam, tôi chưa thấy một ai mà còn một kiết sử trong ngũ dục chưa đoạn trừ. Dù chỉ còn một kiết sử, họ vẫn phải tái sanh lại thế gian này.”

Giới không ăn phi thời chính là Phạm hạnh thanh tịnh “đoạn đoàn thực”. Làm sao hành giả muốn chấm dứt sanh tử và rời khỏi nhà Tam Giới lại không lưu ý đến giới điều này?

Dưới đây hãy thảo luận về quan điểm của Hòa Thượng đối với việc mặc áo giới (đắp giới y). Hầu hết các Sa Di (chú tiểu) và tại gia tín chúng đã thọ năm giới (Ngũ Giới) hoặc Giới Bồ Tát [Tại Gia] đều mặc áo mạn y (hay mạn điều y; tiếng Phạn là pattha), tức là áo cà sa (8) không phải do nhiều miếng vải hợp lại như hình thửa ruộng (vô điền tướng cà sa).

Quyển 40 trong Tứ Phần Luật ghi rằng Đức Phật cho phép người trong Tăng Đoàn mặc y An-đà-hội (antarvasaka) không vá chắp. Trong Phật Chế Tỳ-Kheo Lục Vật Đồ có ghi lại rằng:

“Y thường (mạn y) có ba công dụng. Khởi thủy là y cho Sa Di. Phần Luật đồng ý rằng Sa Di nên có hai mạn y—một y thất điều bảy miếng nên mặc khi nhập chúng, và một y ngũ điều năm miếng nên mặc khi làm việc.”(Chữ “nên” được dùng vì kiểu y vẫn chưa được tiêu chuẩn hóa.)

Trong một trăm năm đầu sau khi Phật Giáo được truyền đến Trung Hoa, chư Tăng vẫn chưa biết cách làm y nhiều miếng vá, do đó họ chỉ mặc y thường (mạn y) mà thôi. Cho đến giữa thời nhà Hán và nhà Ngụy, họ dần dần bắt đầu mặc y Tăng-già-lê (samghati) màu đỏ (9). Do đó có thể biết được áo cà-sa màu đỏ từ lâu đã được dùng ở Trung Hoa.

Hòa Thượng nghiêm khắc yêu cầu những người xuất gia với Ngài phải luôn mặc áo giới và không bao giờ để áo giới rời thân (y bất ly thể).  Hòa Thượng nói:

“Nếu người xuất gia mà không mặc áo giới, thì cũng giống như đã hoàn  tục. Người đó không khác gì  kẻ thế  tục. Mặc áo dài của Trung Hoa với cổ áo cong cong (áo tràng) chưa đủ để chứng tỏ người đó là người xuất gia. Đừng nói là áo tràng, ngay cả khi quý vị có mặc áo giới, mà quý vị vẫn còn dám phá giới và làm điều không thành thật suốt ngày, huống gì là nếu quý vị không mặc áo giới!

Ngày nay, người xuất gia tại Trung Hoa và các nơi khác, đa số [người xuất gia] trong Phật Giáo Đại Thừa, đều không mặc áo giới. Họ nghĩ rằng không mặc áo giới là đúng đắn và là chuyện đương nhiên, cần nên như vậy. Có điều, họ không nhận thức được là khi không  mặc áo giới, thì họ không còn mang hình tướng Tỳ Kheo nữa vậy!”

Hòa Thượng khẳng định rằng:

”Người xuất gia nhất định phải mặc áo giới, nếu không, sẽ không có hình tướng của vị Tỳ Kheo.”

Giới y là biểu tướng phân biệt của đệ tử của Phật. Chính bản thân Đức Phật cũng có ba y và một bình bát, và Ngài luôn luôn đắp y.

Đà-La-Ni Tập Kinh nói rằng:

“Thân vàng của Đức Phật được đắp trong y cà sa màu đỏ (xích cà-sa, saffron kashaya).”

Yếu Lược Niệm Tụng Kinh cũng nói rằng:

“Thân của Đức Phật như vàng ròng, trang nghiêm với ba mýõi hai týớng tốt và tám mýõi vẻ ðẹp. Ngài ðắp y cà sa saffron và ngồi thế kiết già.”

Như thế không phải là không có lý do khi Hòa Thượng xiển dương việc chư Tăng cần phải mặc áo giới.

Có vô số trường hợp kinh đã đề cập về lợi ích của việc mặc áo cà sa. Ví dụ, Kinh Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán có thảo luận mười lợi ích của việc mặc áo cà sa. Quyển tám của Kinh Từ Bi Hoa mô tả năm công đức thánh thiện của áo cà sa của Đức Phật. Quyển mười sáu của Luận Thập Trụ Tỳ-Bà-Sa mô tả hai mươi sáu loại y và mười lợi ích của chúng. Quyển bốn của Kinh Hải Long Vương kể lại việc Long Vương được thoát khỏi móng vuốt của chim Đại Bàng cánh vàng nhờ sự che chở của áo cà sa của Đức Phật. Tuy nhiên vẫn còn có người phản đối việc mặc áo giới và xem đó là lập dị, tạo thêm kiểu đặc biệt để gây sự chú ý. Hòa Thượng nói:

“Ngày nay người ta vô tình làm thói quen xấu trở thành một quy ước. Những người không mặc áo giới được xem là ‘Phật tử chân chánh’, trong khi những người mặc áo giới thì bị xem là giả mạo. Nếu tất cả quý vị–những người học Phật–mà còn không hiểu được điểm sơ đẳng này, thì về căn bản, quý vị chưa phải là Phật tử vậy.”

Kinh Đại Bi có chép rằng:

“Ngay cả Sa Môn (tu sĩ Phật Giáo) trong tự tánh ô nhiễm hạnh Sa Môn, nếu họ có tướng của Sa Môn và mặc áo cà sa, thì tất cả những người như họ -không có ngoại lệ- sẽ được vào Niết Bàn giữa thời Phật Di Lặc và Phật Lâu-Chí”.

Sau khi đọc những lời này từ các kinh sách, chúng ta có còn phản đối quy luật mặc áo giới nữa hay không ? Hòa Thượng nói :

“Đúng sai cần gì cãi,
Thật giả lâu tự biết,
Kẻ trí thấy chân thật,
Kẻ ngu hành giả dối,
Kẻ tốt học Bồ tát,
Kẻ xấu dám mắng Phật,
Tâm Đại Bi bình đẳng,
Phổ độ chúng hữu tình.”

Chương Thứ Ba: Giảng Kinh

 

 

Các kinh sách Hòa Thượng đã giảng trong suốt cuộc đời của Ngài được liệt kê tổng quát như sau: Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang, Tâm Kinh, Kinh Lục Tổ, Kinh Địa Tạng, Kinh A Di Đà, Kinh Bốn Mươi Hai Chương, Bách Pháp Minh Môn Luận, Kinh Di Giáo, Chứng Đạo Ca của Đại Sư Huyền Giác— tất cả có hơn 30 loại khác nhau. Ngoài ra Hòa Thượng còn giải thích về hai lãnh vực triết học của Trung Hoa: Tứ Thư  Kinh Dịch. Trong tất cả những kinh sách này có ba tác phẩm rất đặc biệt, ít có người giảng giải, đó là: Lăng Nghiêm Chú Cú Kệ Sơ Giải, Thủy Kính Hồi Thiên Lục, và Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải (chân dung của chư Tổ Phật Giáo qua lời giải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu của thời đại ngày nay).

ShurangamaMantra.jpg (237392 bytes)

Chú Lăng Nghiêm

Trong Kinh và Chú của Phật Giáo, có “năm loại không phiên dịch” (ngũ chủng bất phiên) bởi vì ngôn ngữ bí mật của chư Phật khó cho hầu hết các vị thánh khác hiểu được, chứ đừng nói đến người thường. Mặc dầu theo thông lệ là không dịch các bài chú trong kinh, tuy nhiên người ta có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Một số người nghĩ rằng việc dịch ý nghĩa của các bài chú có thể mang lại hai mươi bốn loại lợi ích. Vì vậy, khi Hòa Thượng có được bản Lăng Nghiêm Chú Sớ vào năm Dân Quốc thứ 38 (1949), Ngài đã ghi lại:Loạt bài thuyết giảng Lăng Nghiêm Chú Cú Kệ Sơ Giải kéo dài tám năm, từ 1979 đến 1987. Trong suốt lịch sử Phật Giáo, bài chú này hiếm khi được giải thích. Chỉ có Đại Sư Tục Pháp của triều nhà Thanh và Pháp Sư Bá Đình ở Từ Vân Tự tại Vũ Lâm là từng giảng giải chú này. Pháp Sư Bá Đình nghiên cứu Mật Bộ và trước tác bộ Lăng Nghiêm Kinh Quán Đảnh Sớ gồm hai mươi sáu quyển, dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Hoa, và sau đó giải thích chi tiết về mật chú này.

“Tôi có được điều mà trước đó tôi chưa từng có. Tôi miệt mài nghiên cứu và có được một cái nhìn về cảnh giới vi mật. Tôi luôn luôn mang sách theo bên mình và không bao giờ xa rời.”

Ngài cũng nói:

“Để cho Chánh Pháp được trụ thế lâu dài  và để chận đứng tà thuyết, mọi người cần phải hiệp lực và thâm nhập đại định rốt ráo kiên cố.”

Sau khi Hòa Thượng đến Hoa Kỳ, Ngài tuyên giảng Chú Lăng Nghiêm, dùng thể thơ bảy chữ (thất ngôn tứ cú) để giải thích từng câu một của bài Chú Lăng Nghiêm dài 554 câu, và sau đó chú giải theo ngôn ngữ thời nay. Đây thật là một kiệt tác “xưa nay chưa từng có”, vô cùng quý giá. Hòa Thượng nói:

“Dùng bốn câu kệ để giải thích từng câu chú trong bài thì không cách nào giải thích trọn vẹn được, bởi vì diệu nghĩa trong đó thì vô cùng vô tận.

Bốn câu thơ chỉ đề cập đến ý nghĩa tổng quát – chỉ ném ra một miếng gạch, hy vọng sẽ có người tìm ra được ngọc thạch ở trong đó. Bốn câu thơ có vẻ đơn giản, nhưng xuất phát từ tâm tôi. Quý vị có thể nói đó là máu huyết của tôi, là mồ hôi của tôi. Đây chắc chắn không phải là ‘tầm chương trích cú’, ăn cắp văn hoặc sao chép lại của người khác!

Bây giờ tôi giải thích Chú Lăng Nghiêm cho quý vị, bài Chú mà trải qua trăm ngàn vạn kiếp cũng chưa từng có ai giải thích. Thật ra, cũng không dễ gì mà giải thích trọn vẹn được. Khi tôi giải thích chú này, tôi biết không có người nào trong quý vị hiểu tôi nói gì. Ngay cả những người họ nghĩ là họ hiểu được, thật sự họ cũng không hẳn đã hiểu được thấu đáo. Nhưng có thể mười năm, một trăm năm hay một ngàn năm sau, sẽ có người đọc được những lời giải thích đơn giản này và có được sự hiểu biết sâu xa.”

Dưới đây là những lời khai thị của Hòa Thượng về Chú Lăng Nghiêm:

“Ảo diệu vô cùng thật khó sánh,
Kim cang mật ngữ từ bổn tánh,
Trong Chú Lăng Nghiêm đủ hiệu năng
Khai mở đường Ngũ nhãn Lục thông.”

 

“Là Vua Kiên Cố trong các định
Trực tâm tu học đến Đạo Tràng
Thanh tịnh các nghiệp thân, khẩu, ý
Quét sạch vọng niệm tham, sân, si. ”

 

“Lòng thành cảm ứng được hiện chứng,
Chuyên tâm thành tựu đại thần thông,
Đủ đức được gặp câu linh diệu,
Luôn luôn đừng quên việc xiển dương.”

“Ngài A Nan đã chứng Sơ Quá, mà vẫn còn chịu nạn bởi người nữ, và Đức Phật phải dùng Chú Lăng Nghiêm để cứu ngài. Huống gì trong trường hợp của người thường ? Nếu chúng ta không nương tựa vào Chú Lăng Nghiêm, làm sao chúng ta có thể chấm dứt sanh tử được?”

“Hễ còn dù chỉ một người trên thế gian này biết tụng thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm thì yêu ma quỷ quái sẽ không dám xuất hiện công khai. Nhưng đến thời điểm mà không còn ai tụng thuộc Chú Lăng Nghiêm được nữa thì yêu ma quỷ quái sẽ công khai xuất hiện.”

“Thật ra, bằng cách học Chú Lăng Nghiêm quý vị đã là hóa thân của Phật, không chỉ là hóa thân mà là hóa thân Phật trên đảnh của Phật, hóa Phật trong hóa Phật. Những đặc tính vi diệu của Chú Lăng nghiêm thật khó nghĩ bàn !”

Dưới đây là phần giới thiệu tác phẩm Thủy Kính Hồi Thiên Lục. Bộ sách này được Hòa Thượng trước thuật trong bốn năm, từ năm 1985 đến năm 1989. Nội dung của bộ sách này là những lời tán thán chư Phật, chư Bồ Tát, chư A La Hán, lịch đại cao tăng đại đức, các cư sĩ tại gia; cùng những lời bình luận khách quan về các bậc đại đức, dị nhân, nguyên thủ, văn hào … ở trong và ngoài nước từ xưa đến nay. Như Khổng Tử làm sách Xuân Thu, Hòa Thượng vốn nặng lòng trung trinh ái quốc, muốn vãn hồi sự hỗn loạn của thời mạt thế, chúng ta có thể phỏng theo câu nói của Khổng Tử mà than rằng : « Tri ngã giả, kỳ duy Thủy Kính hồ ! Tội ngã giả, kỳ duy Thủy Kính hồ ! »

Có thể nói rằng Thủy Kính Hồi Thiên Lục chính là ‘nhất mạch tâm truyền’ từ Xuân Thu Bút Sử, và cũng là sách ghi chép về nhân quả sống động, rõ rệt nhất của đời nay. Trong tác phẩm này, trước tiên, Hòa Thượng giới thiệu sơ lược về cuộc đời của mỗi nhân vật, rồi dùng tám câu thơ bốn chữ (bát cú tứ ngôn) để ca ngợi, và sau đó kết thúc bằng một bài thơ «hựu thuyết kệ viết» (lại nói kệ rằng) theo thể thất ngôn. Bộ sách này xứng đáng để xem đi xem lại, có thể giúp người đời hiểu biết về luật nhân quả, xét chuyện đã qua mà biết chuyện sẽ đến, và đoạn ác tu thiện.

Trong bài tựa sách, Hòa Thượng đã viết :

“Chúng sanh khi tập điều thiện, dù được nắm tay đối mặt, ba lần răn năm lần dạy, vẫn chưa chịu phụng hành; nhưng khi gặp ác duyên thì niệm niệm liền tăng trưởng, tự biết rành rẽ mà chẳng cần ai vẽ bày. Những kẻ lầm đường lạc lối mà biết quay lại, thật ít lắm thay! Do đó, mọi sự giống như ánh trăng đáy nước và bóng hoa trong gương–chỉ có dáng dấp mà thật không hình hài. Đây chính gọi là sự hy vọng việc không thể hy vọng, sự thành tựu việc không thể thành tựu. Bởi lẽ đó nên viết Gương, Nước Về Trời (Thủy Kính Hồi Thiên) vậy”.

Phật Tổ Đạo Ảnh

Sự truyền thừa được tiếp tục giới thiệu cho đến vị tổ thứ ba mươi ba, tức là vị tổ thứ sáu tại Trung Hoa (Đông Độ Lục Tổ)–Đại Sư Huệ Năng. Bấy giờ, “một hoa nở năm cánh” ; rồi Ngũ Gia (năm nhà) trở thành Thất Tông (bảy tông) — Tông Pháp Nhãn, Tông Tào Động, Tông Vân Môn, Tông Quy Ngưỡng, Tông Lâm Tế, cùng phái Hoàng Long và phái Dương Kỳ;và thêm vào đó là nhánh Ngưu Đầu.Bây giờ chúng tôi xin giới thiệu Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải (Chân Dung Các VịTổ Phật Giáo Giải Thích Bằng Bạch Thoại). Đây là công trình do Hòa Thượng giảng giải trong mười ba năm, trải dài từ năm 1972 đến năm 1985, tổng cộng 346 tiêu đề. Những nhân vật quan trọng được giới thiệu trong này như sau: Từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi “niêm hoa vi tiếu”, giơ cánh hoa trên tay và mỉm cười truyền pháp cho Tôn Giả Ca Diếp; rồi Tôn Giả Ca Diếp truyền cho Nhị Tổ là Tôn Giả A Nan, và tiếp tục như vậy cho đến vị tổ thứ hai mươi tám là Thiền Sư Bồ Đề Đạt Ma, mới là người chính thức mang pháp Thiền sang nước Trung Hoa và trở thành Sơ Tổ ở đất nước này (Đông Độ Sơ Tổ).

Các vị thánh tăng của hai nước đông [Đông Độ – Trung Hoa] và tây [Tây Độ – Ấn Độ], Tông Thiên Thai, Tông Hoa Nghiêm, Tông Từ Ân, Tông Du Già, Luật Tông, Tông Liên Xã, và mười vị đại cao tăng cận đại — tổng cộng là ba trăm ba mươi tám [338] vị cao tăng được giới thiệu trong bộ sách này. Mỗi vị đều được tán thán bằng bài kệ theo thể thơ thất ngôn bát cú (tám câu, mỗi câu có bảy chữ). Từ phần giới thiệu về Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ, tổ thứ sáu của Tông Liên Xã, cho đến bậc cao tăng đương thời là Lão Hòa Thượng Quảng Khâm, Hoà Thượng đều có thêm vào một bài thơ theo thể tứ ngôn bát cú (tám câu, mỗi câu có bốn chữ). Có thể nói rằng tác phẩm này đã tường thuật về hành trạng của ba trăm ba mươi tám vị Tổ Sư rất cặn kẽ.

Bởi vì nguyên bản được viết theo thể văn cổ điển của Trung Hoa, không có dấu ngắt câu, và thêm vào đó là những “cảnh giới ngôn ngữ” của Thiền môn, nên lại càng khó hiểu hơn. Thật khó mà thăm dò được cảnh giới bí ẩn thâm sâu của các vị đại đức thời xưa! Chỉ có thể nói là “không thể nói ra được”, và “chỉ người uống nước mới biết nước nóng hay lạnh” vậy.

Thật ra, việc Hòa Thượng giảng thuật bộ sách Phật Tổ Đạo Ảnh là do một đại nhân duyên. Vào năm 1958, Lão Hòa Thượng Hư Vân gởi bộ sách này cho Hòa Thượng [Tuyên Hóa] cùng với bức thư trong đó nói rằng:

“Thầy gởi cho con bộ Phật Tổ Đạo Ảnh mà Thầy đã hiệu đính trong nhiều năm gần đây. Hãy đọc, và lưu giữ bộ sách này, và Thầy hy vọng con sẽ được lợi ích cho mình, làm lợi ích cho người và trân quý Đạo.”

Thật sự vào ngày 9 tháng 4 năm 1956, Lão Hòa Thượng Hư Vân gởi phiếu điệp đến cho Hòa Thượng, thông tin rằng Ngài [Hòa Thượng Tuyên Hóa] được truyền thừa làm tổ thứ chín của dòng thiền Quy Ngưỡng. Trong thư nói rằng:

“Con là đệ tử đã thiết tha quan tâm đến Phật Pháp và sự tiếp nối huệ mạng của chư Phật Tổ. Nay thuận theo hạnh nguyện của con, Thầy gởi cho con văn bản Phật Tổ Nguyên Lưu để kế thừa Tổ mạch, với kỳ vọng Tổ Đạo nhờ đó mà được trùng hưng, sự truyền thừa này sẽ bất tận.”

Đây là bằng cớ Hòa Thượng Tuyên Hóa đã theo huấn thị của Thầy mình mà giảng thuật bộ sách Phật Tổ Đạo Ảnh sang ngôn ngữ dễ hiểu của thời đại ngày nay để chúng sanh có thể đạt được lợi ích của Pháp ; đây cũng là việc chưa từng có. Đó là lý do tại sao tôi xem ba tác phẩm này là sự nghiệp quan trọng nhất (tam quyết) của Hòa Thượng. Những chúng sanh may mắn được đọc những Pháp bảo trân quý này thật có nhiều phước báo !

Tôi phỏng chừng Hòa Thượng Tuyên Hóa đã làm hơn hai ngàn bài thơ và kệ trong suốt cuộc đời Ngài. Mỗi bài kệ đều có vần điệu và thể hiện trí huệ Bát Nhã thâm sâu của Hòa Thượng. Điều này đặc biệt đúng đối với những bài kệ giảng giải Chú Lăng Nghiêm trước đây chưa từng có; chỉ có những người thật sự chứng nhập cảnh giới của Lăng Nghiêm Đại Định mới có khả năng giải thích như vậy. Ngoài ra, sự giải thích của Hòa Thượng về Phật Tổ Đạo Ảnh có lúc vượt ra ngoài sử liệu, khiến độc giả thắc mắc là có phải Hòa Thượng có thần thông biết được tiền kiếp (Túc Mạng Thông) hay không ?

Hòa Thượng có lời thệ nguyện rằng : “Chỉ cần tôi còn một hơi thở, thì tôi còn giảng kinh thuyết pháp!”; cho nên, Hòa Thượng trước thuật rất nhiều. Thêm vào đó, Hòa Thượng còn nguyện “sẽ phiên dịch kinh điển Phật Giáo sang mọi ngôn ngữ trên thế giới”; điều này có thể nói là công đức vô lượng vô biên. Trước mắt, Tổng Hội Pháp Giới Phật Giáo đã phiên dịch được hơn một trăm bộ kinh Phật và sách khai thị. Sau khi Hòa Thượng viên tịch, công tác phiên dịch kinh điển không hề bị gián đoạn, chư đệ tử của Ngài vẫn tiếp tục lãnh đạo chúng sanh, dẫn dắt họ từ trong bóng đêm tăm tối đến nơi quang minh sáng sủa, từ bờ bên này sang đến cứu cánh Niết Bàn ở bờ bên kia !

 

Thủy Kính Hồi Thiên Lục

 

Chương Bốn: Lão Tử và Trang Tử

Lý do chương này được gọi là “Lão Tử và Trang Tử” vì trong những lời khai thị cũng như qua sự hành trì của Hòa Thượng, đều có liên hệ ít nhiều đến triết lý của Lão Tử. Trong Thủy Kính Hồi Thiên Lục, Hòa Thượng đã đề cập về cảnh giới của Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp như sau:

“Hóa thân thành Lão Tử, rong chơi khắp Chấn Đán (Trung Hoa);
Tiếp dẫn kẻ hữu duyên đăng bỉ ngạn.”

Dĩ nhiên Hòa Thượng nhận ra Lão Tử là hóa thân của Tôn Giả Ca Diếp. Mặc dầu Lão Tử chỉ để lại năm ngàn lời, những lời này đã được nhiều thế hệ hành giả và phàm phu trân quý sâu xa và thích thú. Nhiều điều Hòa Thượng nói và làm phù hợp với triết lý của Lão Tử. Ví dụ, Lão Tử nói:

– Lời thật thì nghịch tai.

– Lời đáng tin thì không hoa mỹ; lời hoa mỹ thì không tin được.

– Chân chánh thì có giá trị; vẻ đẹp thì rẻ tiền.

– Phản là động của Đạo, nhu là dụng của Đạo.

Hòa Thượng thường dùng tâm lý tương phản để thức tỉnh chúng sanh. Một ví dụ là khi được hỏi về việc giết côn trùng trong nhà, Hòa Thượng trả lời:

“Tôi là một con côn trùng, tôi là một con kiến nhỏ. Quý vị giết tôi cũng không sao, nhưng quý vị không nên giết những con côn trùng đó. Nếu quý vị muốn diệt côn trùng, trước hết hãy diệt tôi.”

Điều đó cho thấy tâm từ bi bình đẳng của Hòa Thượng như thế nào!

Suốt cuộc đời, Hòa Thượng dùng Sáu Đại Tông Chỉ: Không Tranh, Không Tham, Không Mong Cầu, Không Ích Kỷ, Không Tự Lợi, và Không Nói Dối để giáo hóa chúng sanh (thật ra đây chính là Năm Giới). Nhiều Phật tử không xem trọng những tông chỉ này, cho rằng ngay cả đứa trẻ lên ba cũng có thể nói ra được. Như vậy còn cần nói thêm gì nữa ? Tuy nhiên, tôi không biết Hòa Thượng đã nói bao nhiêu lần:

“Bất cứ thành tựu nào mà tôi có được trong cuộc đời đều là nhờ tuân theo Sáu Đại Tông Chỉ. Bất cứ người nào muốn tu Đạo đều cần phải theo Sáu Đại Tông Chỉ này.”

Phải chăng Lão Tử từng nói:

“Đạo của ta dễ hiểu và dễ hành nhưng trong thiên hạ không có kẻ nào có thể hiểu và có thể hành!”

Lão Tử còn nói:

“Thiên hạ đều nói Đạo của ta không thể thâm hiểu được, nhưng đó chỉ vì người ta mới khám phá. Nếu họ làm quen lâu hơn, họ sẽ dò đến được cái vi tế của nó”.

Hòa Thượng cũng từng nói:

“Đại đạo bình đẳng, ai cũng có thể lên đường dễ dàng.”

Tu hành, về căn bản thì rất đơn giản: “Đạo có sẵn ngay đó, đừng tìm cầu đâu xa.” Nhưng người ta luôn luôn tìm con đường tắt; họ chạy loanh quanh tìm “mật pháp” để tu hành. Điều này thật sự làm cho con người càng hồ đồ thêm. Chúng ta không nhận thức được rằng “sự bí mật nằm ngay bên cạnh chúng ta” hay sao ? Nó nằm ngay trong việc theo đuổi dục vọng vật chất và chấp trước của tâm phân biệt; nó nằm ngay ở sự chế ngự nóng giận và từ chối nói dối. Đó là những “mật pháp” tức khắc; đó là Đạo!

Sáu Đại Tông Chỉ đó, đã được Hòa Thượng thể nghiệm trong suốt đời khổ hạnh; do chính Ngài lập ra với hy vọng cống hiến điều thiện cho thế gian và giúp ích cho nhân loại. Nhưng người ta không xem những tông chỉ đó là trọng yếu; có khi còn chế giễu. Đúng như Lão Tử đã viết trong Chương 41:

“Khi bậc thượng nhân nghe được Đạo, họ đem thực hành. Khi kẻ phàm phu nghe được Đạo, họ có khi chấp nhận có khi chối bỏ. Khi kẻ hạ nhân nghe được Đạo, họ liền chế giễu. Đạo có thể tìm được trong việc không chế giễu và không tự mãn.”

Triết lý “không tranh” mà Hòa Thượng đã xiển dương trong suốt cuộc đời mình thì cũng giống như sự “không tranh” của Lão Tử. Hòa Thượng thường đề cập bài thơ:

Tranh là tâm hơn thua,
Đi ngược lại với Đạo,
Tâm sanh ra bốn tướng,
Làm sao được Tam muội.?

Những người thật sự không tranh chấp thì không nóng giận. Họ đã đạt đến mức độ có thể tha thứ và thật sự tha thứ. Hòa Thượng còn nói lên bài thơ nữa:

Việc việc buông thì dễ,
Tánh nóng khó sửa đổi.
Thật sự không nóng giận,
Tức có ngọc vô giá.
Lại không buộc lỗi người,
Mọi chuyện sẽ tốt đẹp.
Phiền não không khởi nữa,
Sân hận không kiếm ta.
Thường luôn tìm lỗi người,
Khổ mình không thể dứt.

Như vậy đó không phải là lời dạy vô cùng đơn giản hay sao ? Thật sự không tranh chấp sẽ đem lại vô lượng vô biên công đức. Thế nhưng, Hòa Thượng có thể sẽ rơi vào tình trạng giống như Lão Tử:

“Thật hiếm kẻ biết ta; quý thay những kẻ hiểu thấu ta; đó là viên ngọc thạch hiếm quý của thánh nhân gói trong vải thô.”

Ngoài Sáu Đại Tông Chỉ, Hòa Thượng còn có hai bài thơ đáng được chúng ta tín thọ và phụng hành. Đó là:

Chân thật nhận lỗi mình,
Không bàn luận lỗi người,
Lỗi người là lỗi mình,
Đồng thể tức đại bi.
Hết thảy là khảo nghiệm,
Coi thử mình ra sao,
Ðối cảnh lầm không biết,
Phải luyện lại từ đầu.

Trong sách Luận Ngữ Mạnh Tử, các thánh nhân đã dạy chúng ta rằng, khi sự việc không theo ý mình thì chúng ta hãy xét lại chính mình. Ngoài ra, người quân tử thì tìm lại bên trong mình; còn kẻ tiểu nhân thì nhìn vào người khác. Thêm nữa, khi người quân tử phạm sai lầm thì tự nhận trách nhiệm; còn khi kẻ tiểu nhân phạm sai lầm thì lại trách trời. (Tuân Tử). Sự hướng dẫn của Hòa Thượng cũng là quay trở lại và tìm trong chính mình.

Đúng là có những lúc người ta phải kinh ngạc về hành động “thân giáo” của Hòa Thượng; chẳng hạn như vào ngày 10 tháng 2, năm 1993, khi Ngài đeo khăn che mặt lúc trở lại Vạn Phật Thánh Thành. Nguyên do là vì nhiều đệ tử của Ngài đã vi phạm quy củ “ăn ngày một bữa lúc giữa trưa và luôn mặc áo giới”. Với lòng đau buồn thống thiết, Hòa Thượng đã đeo khăn che mặt lúc trở lại Thánh Thành. Ngài nói:

“Trước khi đi Đài Loan, tôi đã biết rằng tất cả những tông chỉ mà tôi thiết lập từ ngày thành lập Vạn Phật Thánh Thành sẽ bị quét sạch; tôi biết rằng người ta sẽ không tôn trọng và tuân thủ các tông chỉ này. Điều này đã làm cho tôi vô cùng thất vọng và không còn mặt mũi nào để về gặp quý vị. Do đó, tôi đeo khăn che mặt để khỏi nhìn quý vị bằng mặt mũi thật.”

Hành động này của Hòa Thượng là chưa từng có trong lịch sử Phật Giáo — chưa bao giờ có vị Thầy phải đeo khăn che mặt. Thật ra, chúng ta là những đệ tử đã vi phạm giới luật thì đáng lẽ chúng ta phải tự che mặt của mình, chứ không phải Thầy của chúng ta. Sự phán xét của riêng tôi về vấn đề này là điều này xác nhận rằng Hòa Thượng đã đạt đến cảnh giới “vô ngã”.

Một ví dụ khác về lời dạy đã làm kinh ngạc đệ tử xảy ra vào mùa xuân năm 1992 tại Vạn Phật Thánh Thành khi có buổi Đại Hội Vô Già (Không Che Đậy) xưa nay chưa từng được tổ chức tại chùa. Trong buổi họp đó, Hòa Thượng khai thị rằng:

“Tôi đã đau lòng tự đánh mình. Tôi tự đánh tôi nhiều lần đến mức bất tỉnh. Bởi vì tôi thiếu đức hạnh, nên các đệ tử do tôi dạy dỗ mới ra nông nỗi như thế này. Nếu quý vị sám hối chân thật, thì bất cứ lỗi lầm nào quý vị đã gây nên, tôi đều nguyện tự mình nhận lãnh tất cả. Nhưng nếu quý vị không nói lời chân thật, và mong vào địa ngục sớm hơn một chút, thì tôi không có cách nào để cứu quý vị.

Hãy nói sự thật, hãy dùng tâm chân thật của quý vị để sám hối, thì tất cả tội báo nghiệp chướng mà đáng lẽ quý vị phải thọ lãnh trong địa ngục, tôi sẽ nhận chịu hết.”

Theo tôi biết, chưa có vị Thầy nào tự đánh mình vì đệ tử không hiếu thuận. Điều này thật vô cùng đau lòng. Hòa Thượng đã áp dụng đạo lý “lỗi người là lỗi mình; đồng thể tức Đại Bi”, có thể nhìn là thấy ngay. Điều này đã được mô tả trong Phẩm 25 của Kinh Hoa Nghiêm:

“Tôi nên vì chúng sanh, chịu hết tất cả đau khổ của họ để họ có thể thoát được vực thẳm của sanh tử vô tận. Tôi nên vì tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới và trong tất cả các nẻo ác, mà chịu đựng tất cả các đau khổ của họ suốt đến kiếp vị lai…

Tôi thà chính mình chịu khổ thay cho tất cả chúng sanh hơn là để cho chúng sanh bị đọa vào địa ngục. Tôi thà chịu thế cho chúng sanh đang bị nguy nan trong địa ngục, trong loài súc sanh, hoặc trong các xứ vua A Tu La, để tôi có thể cứu chuộc các chúng sanh trong nẻo ác, giúp họ thoát ra và được giải thoát.”

Tôi nhớ khi Lão Cư Sĩ Lý Bình Nam còn sống, có lần một đệ tử đưa một cây roi dài và xin ân sư đánh mình để răn dạy. Thế nhưng, Lão Cư Sĩ cầm lấy cây roi từ tay người đệ tử và nói:

“Xin mọi người hãy đứng dậy. Khi học trò không học, đó là lỗi của Thầy. Tôi sẽ đem cây roi này về và sẽ dùng nó để tự đánh mình.”

Điều này đã làm mọi người xúc động sâu xa. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử nói:

“Kiềm chế mình nhiều hơn và ít buộc lỗi người. Như vậy sẽ tránh sự hối tiếc.” (Chương 15, Vệ Linh Công)

Vua Thành Thang, đời nhà Thương, khi tế cáo với Trời đã nói rằng:

“Xin đừng phạt dân của tôi vì lỗi lầm của tôi; nếu dân của tôi làm sai lầm, lỗi là do chính nơi tôi.” (Chương 20, Nghiêu Viết)

Lời nói và việc làm của những vị thánh nhân này đều tương tự nhau. Họ là gương mẫu, tự chế phục bản thân mình, và chỉ bằng cách đó để ảnh hưởng người khác. Hòa Thượng có một bài thơ khác:

Hạo nhiên chánh khí trùm trời đất,
Lớn mà chuyển hóa học thánh hiền.
Khi làm không thành, tìm chính mình,
Hồi quang phản chiếu, chớ phan duyên.
Làm như kẻ khờ, đừng quá khôn,
Chăm quét bụi tâm, bỏ toan tính.
Nếu luôn nhắc nhở mình như vậy,
Không lâu Phật Pháp đầy vũ trụ.

Cuối cùng, hãy thảo luận triết lý của Hòa Thượng về lễ lạy. Hòa Thượng có lần nhắc rằng bí quyết của suốt cuộc đời tu hành của Ngài là lạy kẻ khác và chịu phần thua thiệt. Hòa Thượng thường nói với những đệ tử mới quy y rằng:

“Là đệ tử quy y của tôi, quý vị phải học tánh nhẫn nại và đừng tranh chấp. Nếu người ta đánh đập quý vị, quý vị hãy lạy họ. Nếu người ta la mắng quý vị, quý vị cũng lạy họ. Hãy luôn sẵn sàng chịu sự thua thiệt.”

“Nếu có người lăng mạ tôi, quý vị nên lạy người đó. Bất luận người nào hủy báng tôi, quý vị đều không nên bào chữa cho tôi.”

Tại Hoa Kỳ, Hòa Thượng thường lạy đệ tử của mình. Nếu có những đệ tử không vâng lời, Ngài sẽ lạy họ, và họ sẽ sửa đổi. Trong những năm đầu tại Hoa Kỳ, có một tối nọ Hòa Thượng đang giảng tại Diệu Ngữ Đường ở Vạn Phật Thánh Thành, không một người xuất gia nào muốn lên phát biểu. Sau khi buổi giảng kết thúc, trong lúc đại chúng tuần tự ra khỏi Diệu Ngữ Đường và trở về Phật Điện, Hòa Thượng đến quỳ bên cạnh cửa và nhìn mọi người đi ra. Ngài nghiêm khắc trách phạt mình và dạy bài học không lời (vô ngôn chi giáo). Đó thật là “Tu hành trong thời đại không gian”, khi mà Thầy lại lạy đệ tử của mình. Điều này cho thấy Hòa Thượng đã đạt được tinh thần vô ngã.

Ngoài ra, Hòa Thượng thường hướng dẫn đại chúng bằng cách tự mình quỳ gối để lắng nghe những bài thuyết pháp của các vị khách tăng đến thăm Vạn Phật Thánh Thành. Ngài tuyệt đối không kiêu ngạo như người ngoài đồn đại. Hòa Thượng đã bắt đầu lạy chúng sanh từ lúc 12 tuổi (Ngài lúc đó chưa lạy Phật). Mỗi ngày, Ngài lạy trời, đất, cha mẹ, thầy, người lớn tuổi, côn trùng, kiến, v.v… tổng cộng 1.670 lạy. Điều này chắc chắn người thường không làm nổi.

Ngày nay, có nhiều người học Phật mà chỉ biết lạy vị Phật bên ngoài. Họ không lạy vị Phật trong tâm của chính họ, cũng không sám hối và nhận lỗi của mình trước cha mẹ và chúng sanh; do đó sự thực hành không được viên mãn. Chúng ta phải học lạy cha mẹ và tất cả chúng sanh mỗi ngày. Chúng ta nên liên tục “tìm cầu bên trong mình, phản chiếu trở lại, lắng nghe tự tánh”. Chúng ta hãy “thấy người hiền thì cố gắng bắt chước, thấy người không phải hiền thì tự xét mình”.

 

Chương Năm: Sanh Tử

 

Mục đích tối hậu của Phật Pháp là giúp chúng ta chấm dứt sanh tử. Có nhiều cách để làm việc này, nhưng có những điều chúng ta cần phải biết.

Người xưa nói:

“Nếu không trừ bỏ ái dục, thì không thể sanh về Cực Lạc được.

Nếu nghiệp không nặng, thì không phải sanh ra ở cõi Ta Bà.”

Nếu ái dục không chặt đứt, thì không thể nào chấm dứt sanh tử. Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Nếu dâm tâm không trừ, không thể ra khỏi trần lao.”

Ngoài ra Kinh này còn nói:

“Nếu chúng sanh trong sáu nẻo không có dục niệm trong tâm, họ sẽ không còn tiếp tục sanh tử.”

Kinh Viên Giác nói:

“Người ta cần biết rằng luân hồi là do ái dục. Do đủ loại dục, sanh ra ái, cứ sanh tử mãi.”

Kinh Vô Lượng Thọ (phẩm bốn mươi mốt, “Hoặc Tận Kiến Phật”) có nói:

“Nếu có những chúng sanh trồng thiện căn, tạo phước đức lớn, nhưng còn chấp tướng, còn phân biệt, và còn chấp trước tình cảm sâu đậm, họ cuối cùng vẫn thất bại trong việc tìm cách thoát khỏi luân hồi.”

Trong Vô Lượng Thọ Kinh Sao có nói:

“Dục là nguồn gốc của dòng sanh tử và là nhân làm xa rời giải thoát.”

Tất cả các kinh điển và sách chú giải dường như đều chỉ rõ ràng rằng dục là gốc rễ của sanh tử. Suốt đời Hòa Thượng luôn xiển dương giáo dục, vì Ngài tin rằng con người đạo đức được sinh ra từ những hôn nhân tốt đẹp, và hôn nhân tốt đẹp thì do sự hỗ tương trung thành và tránh ngoại tình. Những giá trị này cần phải được củng cố ở trẻ em từ lúc nhỏ. Chúng ta phải giáo dục các em quan hệ chánh đáng và không quan hệ bừa bãi.

Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng. Các loại bệnh kỳ lạ và thảm họa trên thế giới đều gây ra bởi giết hại và dâm dục. Mặc dầu có lẽ nhiều người không thích nghe hay không thích thảo luận về đề tài này, Hòa Thượng nói:

 

“Những gì quý vị phản đối nhiều nhất, thì đó là điều tôi muốn nói nhiều nhất. Như thế cả hai chúng ta sẽ có công việc để làm.”

Suốt đời Hòa Thượng luôn sách tấn mọi người tránh xa tà dâm và ái dục. Ngay cả vào năm Ngài viên tịch, Ngài vẫn còn nhắc nhở:

 

“Dục là điều xấu ác nhất trong các điều ác; đừng đi trên con đường tử lộ đó.”

“Người ta sanh ra từ ái dục và chết vì ái dục.”

“Con trai không nên tìm kiếm bạn gái trước khi được hai mươi lăm tuổi. Con gái không nên tìm kiếm bạn trai cho đến khi ít nhất hai mươi tuổi.”

Hòa Thượng nói về những phương pháp giáo dục cổ điển tại Vạn Phật Thánh Thành, có trường riêng biệt cho nam sinh và nữ sinh. Điều này khuyến khích con người tự kềm chế và tránh quan hệ bừa bãi, tránh phá thai và ngừa thai. Ái dục là nguyên nhân chính của sự suy đồi trên thế giới. Hòa Thượng nói:

 

“Con người có chết vì tiền không? Không! Sự ham muốn giàu có thật sự là do ái dục điều khiển. Con người chết vì ái dục. Câu ngạn ngữ ‘Người ta chết vì tiền’ là sự nói lệch đi, bởi những người Trung Hoa không muốn phơi bày điều đó ra. Họ biết đó là sai, nhưng lại không nói ra. Họ chỉ muốn tự lừa dối chính họ. Như có câu nói: ‘Thuốc hay thì đắng, nhưng chữa được bệnh. Lời thật tuy khó nghe, nhưng có thể giúp người sửa đổi hành vi.’ Tôi không đành nhìn người ta bị bệnh AIDS (SIDA), do đó tôi phải nói lên điều này.”

Ngài còn nói:

 

“Nếu quý vị không buông xả được ái dục, thì dầu cho quý vị xuất gia tám vạn bốn ngàn đại kiếp, quý vị cũng chỉ phí thời gian trong Đạo Phật và tạo nghiệp chướng với mỗi bữa ăn mình thọ dụng.”

Mỗi ngày trên báo chí đăng đầy dẫy những bài tường thuật về các vụ giết người, trộm cắp, tà dâm, gian dối. Giết người và tà dâm đặc biệt rất phổ biến. Hòa Thượng nói:

“Về luật nhân quả, tà dâm là tội nặng nề nhất và bị trừng phạt nặng nhất. Theo luật nhân quả, khi người ta làm hạnh tà dâm bao nhiêu lần trong đời, thì bấy nhiều lần bị cái cưa khổng lồ cưa xẻ từ đầu đến chân. Nếu một người kết hôn một trăm lần, người đó sẽ bị phân chia một trăm lần lúc chết.”

Trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, Đại Sư đã có những lời nghiêm khắc :
“Những người làm hạnh tà dâm là dùng thân người làm hành vi thú vật. Khi sanh mang họ chấm dứt, họ sẽ bị đọa vào các địa ngục và sau đó tái sanh vào loài thú vật, và qua hàng ngàn tỉ kiếp vẫn không thể thoát ra được. Bởi vì tất cả chúng sanh sanh ra từ ái dục, giới này khó giữ nhưng dễ phạm.”

“Những người làm hạnh tà dâm không biết tự trọng hay xấu hổ. Họ thật dơ bẩn xấu xa đến cực điểm. Với thân người, họ hành xử như thú vật. Họ đã trở thành thú vật trong khi còn sống, và trong kiếp kế tiếp họ sẽ bị sanh làm thú vật… Những người làm hạnh tà dâm chắc chắn sẽ sinh những đứa con không biết giữ hạnh tiết dục… Những người hủy hoại thân thể bằng thủ dâm – dầu không làm hạnh tà dâm với kẻ khác – họ vẫn phải đọa đại địa ngục. Sau khi ra khỏi địa ngục, họ có thể đầu thai thành chim én hay quạ. Nếu sanh làm người, họ trở thành đĩ điếm…”
Có người có thể nghĩ rằng lời của chư Tổ là nói quá đáng hoặc sửa quá đáng lỗi lầm, nhưng ở đây không phải như vậy. Chúng sanh trong thời Mạt Pháp đã làm quá nhiều điều ác mà nếu sự sửa đổi không quá đáng, thì sẽ không hữu hiệu. Quý vị chưa từng đọc thiên “Đằng Văn Công” phần II trong Mạnh Tử hay sao? Trong đó nói rằng: “Thời đại thì xấu xa, và Đạo thì yếu kém; lời dạy tà vạy và hành vi bạo loạn khắp nơi. Quan tướng thì giết chủ, con giết cha. Khổng Tử đã lo sợ và viết sách Xuân Thu”. Có thể thấy rằng lòng người đã quá suy đồi trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, thời Mạt Pháp thì còn suy đồi hơn biết bao nhiêu ? Chư Tổ nói lên những lời đó là có lý do; chúng ta không nên nghi ngờ và bàn luận về những lời đó. Như Lão Tử nói: “Lời thật thì có vẻ nghịch lý” (chánh ngôn nhươc phản).

Có thể có kẻ nói rằng: “Con người là một sinh vật tình cảm. [Sự ham muốn] thức ăn và tình dục là một phần của bản tánh.” Đó cũng chính là lý do chúng ta phải tu hành!

Kinh Phật Nói Bốn Mươi Hai Chương nói rằng:

“Hãy xem những người phụ nữ cao niên như mẹ của mình, xem những người lớn tuổi hơn mình như chị của mình, xem những người trẻ tuổi như em gái của mình, và xem người nhỏ tuổi như con gái của mình. Hãy phát tâm cứu họ, và diệt những tà niệm đi.”

Đoạn này không bảo quý vị hãy ghét người khác, nhưng để nhận ra Trung Đạo là không yêu, không ghét; thực hành Trung Đạo tức là xem bạn và thù đều như nhau và xem nam nữ đồng nhau.

Chương Sáu: Bát Nhã

 

Phần lớn những đáp án của Hòa Thượng cho các câu hỏi của người khác đã được ghi chép lại. Mỗi khi Hòa Thượng trả lời câu hỏi của người khác, câu trả lời của Ngài luôn luôn là những sự “bất ngờ” thú vị, khiến mọi người đều kinh ngạc, tràn đầy niềm pháp hỷ, và không ngớt vỗ tay tán thưởng. Những câu trả lời hài hước của Hòa Thượng luôn luôn ẩn chứa thiền vị làm người hỏi như bị một cú đấm đích đáng vào đầu và chỉ thẳng vào tâm.

Một đoạn trong Kinh Lục Tổ (Pháp Bảo Đàn), phẩm thứ 8, Đốn Tiệm, có thể soi sáng những khôi hài Bát Nhã của Hòa Thượng:

“Người thấy tánh lập ra (muôn pháp) cũng đặng, chẳng lập ra cũng đặng. Ði lại tự do, không ngừng không ngại, phải chỗ dùng thì tùy cơ mà làm, phải chỗ nói thì tùy cơ mà đáp, hiện khắp hóa thân mà chẳng lìa tánh mình, tức là đặng Tự tại thần thông, Du hý Tam muội. Đó gọi là thấy tánh.”

Ý nghĩa của đoạn này là người chân chánh giác ngộ, kẻ thực sự minh tâm kiến tánh, có thể lập ra phương pháp hoặc không lập ra, tuỳ ý họ muốn. Họ có thể đến và đi tùy ý, không bị chướng ngại. Điều này cho thấy sự tự tại về sanh tử. Nếu người nào nêu ra một câu hỏi, họ có thể trả lời mà không cần suy nghĩ, và những câu trả lời đều có đạo lý chứ không vô lý. Lúc đó, hóa thân của họ ở khắp nơi, và hóa thân không rời tự tánh; thế nên, ở mọi nơi và mọi lúc, họ đều được quán tự tại và có đủ Ngũ nhãn Lục thông. Những người thấy tánh có thể trả lời các câu hỏi ngay lập tức, và không bao giờ trả lời sai hoặc gây ngộ nhận, dẫn người ta đi lạc. Dưới đây là một số đáp án của Hòa Thượng đối với những câu hỏi của những người có tín tâm.

  1. Làm thế nào để chấm dứt sanh tử ?

Đ. Ăn cơm, mặc áo quần, ngủ nghỉ.

 

Hòa Thượng không nói đùa. Thật ra, “trong mọi cử chỉ, tự xem xét mình. Dù động hay tịnh, ngủ hay thức, đừng rời khỏi nhà.” Tâm bình thường là Đạo!

  1. Chúng ta có thể lạy tượng Phật chưa được “khai quang” không ?

Đ. Nếu trong tâm quý vị không có chấp trước, thì tượng Phật luôn luôn đã được khai quang. Nếu quý vị còn chấp trước, thì dù tượng Phật đã được khai quang cũng vẫn giống như chưa khai quang.

  1. Nếu chúng ta đáng lẽ tụng 108 biến Chú Đại Bi mỗi ngày, thì nên tụng Chú Lăng Nghiêm bao nhiêu biến ?

Đ. 1.800 biến!

  1. Làm sao để ngăn ngừa động đất ?

Đ. Nếu con người không nổi nóng, thì sẽ không có động đất.

  1. Chúng ta nên tụng kinh hoặc chú gì để dễ dàng thành Phật ?

Đ. Tụng kinh “Không Nổi Nóng”, kinh “Không La Mắng Người Khác”, và kinh “Không Nóng Giận”. Với ba bộ kinh này, quý vị sẽ được thành Phật rất nhanh!

  1. Làm thế nào để dứt bỏ tâm dâm dục ?

Đ. Nếu đừng nghĩ tới, thì sẽ dứt bỏ được. Nếu cứ liên tục nghĩ đến, thì làm sao dứt bỏ được ? Ngay khi những niệm này vừa khởi lên, phải biết rõ nó. Một khi biết rõ, thì nó biến mất.

  1. Bạch Hòa Thượng, sau khi viên tịch, Ngài sẽ đi về đâu ?

Đ. Không nơi nào cả!

Thật ra, Hòa Thượng đã đạt được cảnh giới “sanh tử tự do”, do đó Ngài “không đến cũng không đi”. Ngài không đi đâu cả. Hòa Thượng đã nhiều lần nói rằng:

“Đối với tôi sanh và tử không có gì khác nhau cả.”

“Tôi có thể sống nếu tôi muốn sống, và chết nếu tôi muốn chết. Tôi tự do chọn lựa sống chết.”

“Tôi xem chết và sống giống nhau, không có gì khác biệt. Tôi có thể quên mình vì Phật Pháp. Đây là bốn phận căn bản của người Phật tử.”

  1. Làm thế nào để phá thủng chấp trước và vọng tưởng ?

Đ. Ai cho quý vị sự chấp trước ? Ai cho quý vị những vọng tưởng ?

  1. Câu “nên sanh tâm không trụ vào đâu cả” (ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm) có nghĩa là gì ?

Đ. Tâm của quý vị nằm ở đâu ? Trước hết, hãy cho tôi biết điều đó.

  1. Làm sao có thể ra khỏi Tam Giới và vào cửa giải thoát ?

Đ. Một khi quý vị không còn ở trong Tam Giới, tức là quý vị đã ra khỏi Tam Giới rồi vậy!

  1. Bồ Tát Quán Thế Âm vốn từ đâu đến ?
  2. Tại sao quý vị không tự hỏi quý vị từ đâu đến ?
  3. Rốt cuộc thì người sợ ma hay ma sợ người ?

Đ. Nếu trong tâm quý vị có ma, thì người sợ ma. Nếu trong tâm không có ma, thì ma sợ người.

  1. Làm sao để người tại gia có thể học hạnh “ngủ không nằm” ?

Đ. Người tại gia trước hết nên học hạnh “không khởi tà vạy” !

  1. Làm thế nào để có thể dung nhập Phật Pháp vào cuộc sống hàng ngày ?

Đ. Bằng cách không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không nói dối.

  1. Làm thế nào để đối phó với vấn đề vãng sanh ?

Đ. Quý vị muốn vãng sanh để làm gì? Quý vị đem theo quá nhiều rác rưởi như thế, thì làm sao có thể đi đặng ?

  1. Việc Phật tử hiến tặng bộ phận cơ thể sau khi chết có phải là ý kiến hay không?

Đ. Cho cơ phận sau khi chết thì không tốt bằng cho cơ phận lúc đang còn sống. Như vậy mới chân thật! Nếu chỉ cho khi quý vị đã chết và không còn dùng đến nữa, thì ích lợi gì ? Có câu: “Đừng đem cho người khác cái gì mà mình không muốn.”
Hiến tặng bộ phận cơ thể là đề tài được thảo luận sôi nổi trong những năm gần đây, và người ta không đồng ý với nhau. Quan điểm của Hòa Thượng đối với vấn đề này rất đặc biệt, Ngài cho rằng nếu lúc còn sống, người ta có thể hiến tặng cơ phận của mình (có thể chịu đựợc sự đau đớn), thì sẽ không có vấn đề gì trong việc hiến tặng cơ phận lúc lâm chung. Do đó, Ngài vẫn giữ ý kiến rằng không nhất thiết là phải đợi tới lúc lâm chung mới hiến tặng cơ phận (không ai có thể đoan chắc là họ sẽ không khởi tâm hối hận về quyết định của họ bởi vì lúc đó quá đau đớn). Hơn nữa, Hòa Thượng cũng cho rằng người thật sự thực hành Bồ Tát Đạo thì nên “cho kẻ khác những gì mình ưa thích”.

Có lần có người thưa với Hòa Thượng :

“Khi con thấy Hòa Thượng phải chống gậy để đi lại bởi vì Ngài đã gánh chịu quá nhiều nghiệp chướng của chúng sanh, con cảm thấy rất đau lòng. Con cúi xin Hòa Thượng từ bi trụ thế lâu hơn !”

Hòa Thượng lập tức ném cây gậy đi, mọi người liền vỗ tay ; và Ngài nói:

“Con còn cảm thấy đau lòng nữa không ?”

Đây là một ví dụ về pháp Bát Nhã vi diệu của Hòa Thượng là “Giữa tướng quét sạch các tướng.” Như vậy không thú vị hay sao ?

Trong suốt cuộc đời, Hòa Thượng luôn nhấn mạnh “đừng nổi nóng” và “tu nhẫn nhục”, bởi vì “Phật Pháp không lìa thế gian pháp. Lià thế gian mà tìm Bồ Đề thì cũng giống như đi tìm sừng thỏ.” Hòa Thượng nói:

“Quý vị chỉ có thể tiêu trừ hoạn nạn khi nào không còn phiền não. Quý vị chỉ có thể sống lâu hơn nếu không nổi nóng. Nếu một người không nổi nóng, tất cả nghiệp chướng sẽ được tiêu trừ.”

Hòa Thượng cũng đã “phát minh” hai bài chú rất thú vị:

“Nhẫn nại! Nhẫn nại! Cần phải nhẫn nại! Chớ nên nóng giận ! Ta bà ha. ”
“Trong lòng không nóng giận,
Bệnh gì cũng tránh được!
Đây phương thuốc nhiệm mầu,
Để quên trên gác cao.
Ta bà ha.”

Khi Hòa Thượng trở về Vạn Phật Thánh Thành với tấm khăn che mặt (xem chi tiết trong nguyệt san Vajra Bodhi Sea số 275), một trong các đệ tử của Ngài không đành lòng thấy như vậy nên đến giật lấy tấm khăn che mặt của Ngài. Hòa Thượng nói khôi hài:

“Nếu ông lấy mất tấm khăn che mặt này của tôi, tôi có thể dùng tấm khăn khác. Tôi đã chuẩn bị năm cái — cái màu xanh, cái màu vàng, cái màu đỏ, cái màu trắng, và cái màu đen. Đến năm cái khăn lận!”

Bề mặt thì dường như không có gì, nhưng thực chất thì “công án” này không đơn thuần như thế. Tôi tin rằng đây là phương pháp “thân giáo” Bát Nhã của Hòa Thượng. Hành động giật khăn che mặt tượng trưng việc “đập nát các tướng” và tìm lại “bổn lai diện mục”. Năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen tượng trưng năm uẩn — Ngài thử nghiệm đệ tử để xem họ có thể phá năm uẩn, và sanh tâm không trụ vào sắc tướng (tương tự việc phá ba “cửa ải” trong Thiền tông) hay không.

Có câu:

“Thấy sự hiểu sự, vượt thế gian,
Thấy sự mê sự, đọa trầm luân.”

Chẳng hay có ai trong chúng ta đã “hiểu sự” chưa ? Nếu quý vị đọc những câu trả lời và khai thị của Hòa Thượng với sự chú tâm cẩn thận, thì trí tuệ của tự tánh của quý vị sẽ phát khởi dễ dàng hơn, bởi vì “Lời rộng và giải thích chi tiết tất cả đều diễn bày sự thật tột cùng”. Hòa Thượng thường nói:

“Đừng tin ở tôi, và cũng đừng tin ở Phật. Hãy tin vào trí tuệ bản hữu của chính quý vị. Hãy khám phá Bát Nhã ngay trong tự tánh, và như thế quý vị sẽ đạt được Trạch Pháp Nhãn. Nếu đó là Đạo, hãy tiến tới. Nếu không phải là Đạo, hãy thối lui. Đừng mang nón mà nghĩ đó là giày !”

 

Chương Bảy: Thần Dị

 

Thần thông là gì ? “Biến hóa khôn lường là ‘thần’; không câu thúc, chướng ngại là ‘thông’.” Đó là khả năng làm cho người khác không tài nào hiểu được, đồng thời có thể làm bất cứ điều gì mình muốn mà không gặp trở ngại. Hòa Thượng còn nói:

“Diệu dụng khó lường là ‘thần’ ; tự tại, không ngăn ngại là ‘thông’”.

Những người chân thật chứng đắc thần thông thì có được Ngũ Nhãn và Lục Thông. Trong Phật Giáo, Ngũ Nhãn và Lục Thông là cảnh giới Bát Nhã tuần tự hiển hiện trong quá trình tu hành vô lậu, khai ngộ và chứng quả của hành giả; điều này không được xem là phi thường. Sự khác biệt là cái nhìn của hành giả có chân chánh hay không. Hành giả phải trì giới thanh tịnh và ngăn ngừa tham dục, để không đi sai đường, lạc vào tà đạo.

Thật ra, thần thông chỉ đơn giản là sự thông suốt của tự tánh (tự tánh thông). Mọi người bên trong đều đã có sẵn đầy đủ Phật tánh cùng Ngũ Nhãn Lục Thông, nhưng đã bị ngăn che bởi vô minh và phiền não. Dĩ nhiên khi Phật còn tại thế, Ngài đã cấm đoán mọi người là không được biểu diễn thần thông của mình, nhưng Ngài cũng không cấm đoán con người không nên hiển lộ thần thông. Nếu Bồ tát có thần thông mà không hiển lộ để phương tiện giáo hóa chúng sanh, thì thần thông để làm gì ? Đức Phật chỉ sợ rằng người ta “tùy tiện” biểu diễn thần thông, hoặc dùng thần thông để lừa dối kẻ khác và đưa họ vào cảnh giới tà ma (đã được mô tả rõ ràng trong Chương “Năm Mươi Ấm Ma” của Kinh Lăng Nghiêm). Phần kinh này có nói:

“Nếu hành giả không nghĩ mình là chứng Thánh, thì đó là cảnh giới tốt. Nếu cho rằng đó là chứng Thánh, thì sẽ bị lạc vào đường tà”.

Câu này rất quan trọng!

Nhiều người ngộ nhận cho rằng Hòa Thượng là người phô trương thần thông. Những câu chuyện linh ứng kỳ diệu trong suốt cuộc đời của Hòa Thượng thật quá nhiều để có thể tính đếm được. Tôi sẽ đề cập ba trường hợp để mọi người cùng tham khảo. Quý vị có tin hay không là tùy quý vị. Mọi người có lẽ đã từng nghe ba câu nói nổi tiếng dưới đây của Hòa Thượng:

Ngày nào tôi còn ở Hương Cảng,
thì tôi không cho phép bão lớn kéo tới Hương Cảng.
Ngày nào tôi còn ở San Francisco,
thì tôi không cho phép San Francisco có động đất.
Ngày nào tôi còn ở đây,
thì tôi không cho phép thời kỳ Mạt Pháp xảy đến.

Nếu chúng ta nghiên cứu những câu này kỹ càng, chúng ta sẽ thấy rằng những chữ “tôi không cho phép” không phải là ám chỉ “thần thông”, mà chính là những hạnh nguyện từ bi của một vị Bồ Tát Đại Thừa. Bồ Tát Địa Tạng không từng nói: “Địa ngục chưa trống không, tôi nguyện chưa thành Phật” hay sao ? Ai có thể biết được biết bao nhiêu máu, mồ hôi, và nước mắt đã đổ ra để hoàn thành lời nguyện này ? Hơn nữa, vì Hòa Thượng nghiêm ngặt giữ giới không nói dối suốt cả đời, do đó lời nói của Ngài tự nhiên có những ảnh hưởng phi thường. Hòa Thượng có lần nói: “Không nói dối là bài chú hữu hiệu nhất”. Đúng như vậy, đó là pháp môn vi diệu nhất!

Về việc động đất tại San Francisco, ngoại trừ trận động đất lớn xảy ra vào ngày 17 tháng 10 năm 1989 (lúc đó Hòa Thượng đang ở Đài Loan), từ năm 1968 cho đến nay, San Francisco không có trận động đất nào lớn cả. Hòa Thượng khiêm tốn nói rằng:

“Những chuyện lớn thì tôi không làm gì được nhiều, nhưng những chuyện nhỏ như động đất thì tôi có thể đối phó được.

Dĩ nhiên là đã có những trận động đất nhỏ, nhưng những trận động đất không gây thiệt hại thì không tính đến. Nếu tôi không có gì để nương tựa vào, nếu không nhờ chư Phật và chư Bồ Tát mười phương cũng như trời rồng và tám bộ chúng hộ trì Pháp của tôi, làm sao tôi dám có lời dự ngôn như vậy ?”

Có một trường hợp khác liên quan đến bài viết trong tạp chí Bồ Đề Thọ số 437, tựa đề “Một Vài Cảm Nghĩ Về Chuyến Viếng Thăm Mã Lai Á Lần Thứ Ba Của Phái Đoàn Vạn Phật Thánh Thành và Đại Học Phật Giáo Pháp Giới”.Tác giả của bài viết là Pháp Sư Tịnh Quán, một đệ tử lâu năm của Lão Pháp Sư Quảng Hóa, người chuyên nghiên cứu Kinh Kim Cang và đặc biệt thể ngộ các câu “Các tướng như huyễn” và “Nên sanh tâm không trụ vào đâu cả”. Trong bài viết này, Pháp Sư đề cập rằng Hòa Thượng đã chữa bệnh ung thư mũi của Pháp Sư, một căn bịnh mà Pháp Sư đã chịu đựng trong nhiều năm, và bệnh “cổ họng khô” (yết hầu can táo chứng).

Cuối bài viết, Pháp Sư kể lại rằng lúc đang nằm ngủ theo tư thế nằm trong liêu phòng, Pháp Sư đột nhiên cảm thấy mình như bị ép giữa hai bàn chân khổng lồ, và trên không trung có tiếng của Hòa Thượng nói rằng: “Ông có nói với tôi là muốn trở về Vạn Phật Thánh Thành để cùng tôi tu hành. Bây giờ là lúc nào rồi mà ông vẫn còn ngủ ? Tại sao ông lại ngủ nhiều như vậy ?”

Sau khi tỉnh giấc, Pháp Sư nói:

“Trong Kinh có nói rằng Đức Phật có thân vàng cao sáu trượng. Hôm nay tôi thấy Hòa Thượng xuất hiện cũng cao chừng đó, ánh sáng vàng chói lòa, cao lớn khổng lồ… Đó có phải là giấc mơ không ? Nhưng nó rất rõ ràng trong tâm trí tôi, và đầu óc tôi vẫn còn thấy rõ. Về căn bản thì ‘chân thật nghĩa không thể diễn tả bằng lời’, thật là vi diệu và không thể diễn bày, như vậy tại sao tôi phải nói ra ? ‘Thấy được hoa Ưu đàm hiếm có nở hoa còn dễ dàng, nhưng rất khó gặp được vị thầy thiện trí thức.’ Vì lý do đó, tôi đã kể lại rõ ràng về căn bản của một sự cảm ứng không thể diễn bày. ‘Chân thật nghĩa’ phải để lại cho độc giả tự kinh nghiệm lấy.”

Cuối cùng là một ví dụ xảy ra vào năm 1984, khi Hòa Thượng đang hoằng pháp tại Tân Gia Ba. Trước khi Hòa Thượng rời Hoa Kỳ, Ngài đã hứa với một nữ cư sĩ tại San Francisco là Ngài sẽ đến xem nhà của bà. Nhưng sau khi hứa như vậy, Hòa Thượng lại đi Tân Gia Ba trong chuyến hoằng pháp. Tuy nhiên, vào ngày Hòa Thượng đã hứa, hai đứa con của người phụ nữ, năm và sáu tuổi, đã thật sự trông thấy Hòa Thượng đến nhà và nhìn chung quanh. Do đó, Thầy Hằng Cống có nói:

“Đức độ của Hòa Thượng thật thâm sâu. Những người chưa gần Ngài thì không biết điều này. Quý vị có biết tại sao chúng tôi lại để cái ghế trống này ở giữa ? Bởi vì không ai biết Hòa Thượng ở đâu. Hơn nữa, chúng tôi đều cảm thấy hơi bồn chồn và sợ hãi khi ngồi trên đó.”

Thầy Hằng Cống cũng để cập rằng khi Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều đang đi Ba Bước Một Lạy, những người cảnh sát Hoa Kỳ thường đến gần và nói : “Hôm qua tôi thấy ba người quý vị cùng đi lạy. Có một người đàn ông Trung Hoa hơi lớn tuổi lạy đàng sau hai ông nữa, sao hôm nay lại không thấy ông ấy?”

Tôi không biết quý vị có tin ba trường hợp vừa đề cập ở trên không, trong đó Hòa Thượng cho người ta cảm giác rằng Ngài có thần thông. Trong phẩm 17, “Công Đức Sơ Phát Bồ Đề Tâm”, của Kinh Hoa Nghiêm có nói rõ:

“Trụ trên con đường tối thượng của Nhất Thừa, người đó thâm nhập diệu thượng Pháp. Hiểu rõ lúc nào chúng sanh đã sẵn sàng và lúc nào chưa, người đó thị hiện thần thông để làm lợi ích cho họ.”

Tôi đã đọc và nghe tất cả những bài khai thị và băng giảng của Hòa Thượng, và tôi không bao giờ gặp một trường hợp nào Hòa Thượng nhận rằng Ngài có thần thông cả. Hòa Thượng nói:

“Thần thông chỉ là một tên khác của Trí Tuệ. Nếu quý vì có trí tuệ, quý vị sẽ tự nhiên có thể thấy toàn vũ trụ như hạt amalo trên lòng bàn tay.

Trong Phật Giáo, thần thông chỉ là thứ phụ, không phải là vật chính. Bất cứ người nào nhấn mạnh về thần thông thì đều vô cùng vô minh. Tôi sẽ nói rõ ràng với quý vị, tôi không có thần thông; ngay cả đến ma thông tôi cũng không có. Sự nhận bừa quá mức không phải là điều tôi thích.

Những người thông hiểu Phật Pháp nên chú tâm vào không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không nói dối. Nếu quý vị tìm kiếm Ngũ Nhãn Lục Thông hoặc những thứ tương tự, quý vị chỉ ‘tìm cá trên cây’ mà thôi!”

Việc Hòa Thượng có thần thông thật ra đã được tiết lộ bởi Lão Hòa Thượng Quảng Khâm. Vào ngày 8 tháng 6 năm 1980, Hòa Thượng gởi hai đệ tử đến viếng thăm Lão Hòa Thượng Quảng Khâm. Lúc đó, Lão Hòa Thượng Quảng Khâm hỏi họ:

“Thầy các ông có thần thông phi thường. Ngài có thường dạy thần thông cho các ông không ?”

Hai người đệ tử trả lời:

“Thần thông không thể được dạy. Thần thông xảy ra tự nhiên khi tu hành đến mức độ nào đó. Hơn nữa, thần thông không thể giúp chấm dứt sanh tử. Đó không phải là mục tiêu tối hậu mà Đạo Phật nhắm đến.”

Từ sự đề cập của Lão Hòa Thượng Quảng Khâm về thần thông của Hòa Thượng, có thể suy dẫn ra là Hòa Thượng thật sự có thần thông. Nếu những gì quý vị biết về Hòa Thượng chỉ là thần thông của Ngài, thì điều đó thật đáng thương; có thể nói rằng quý vị không phải là đệ tử chân thật của Ngài. Hòa Thượng, theo như tôi biết, không phải chỉ là người có Ngũ Nhãn Lục Thông, mà là một vị trưởng lão chân thật, từ bi và vô ngã. Vào mùa xuân 1993, khi Hòa Thượng trở về Vạn Phật Thánh Thành và mang khăn che mặt do hổ thẹn vì đệ tử đã vi phạm gia phong truyền thống của Vạn Phật Thánh Thành, Ngài thật sự nói:

“Tôi mang khăn che mặt, tôi không thể nhìn thấy rõ ràng!”

và sau đó, vì như vậy, Hòa Thượng đã “tình cờ” đánh “lầm” người.

Do đó tôi xem xét việc Hòa Thượng là một vị thầy dùng gậy tự đánh mình, người đã lấy và xin tánh nóng nảy của kẻ khác, người đã nhịn ăn để cầu nguyện cho hòa bình thế giới và chấm dứt chiến tranh, người đã đi khắp nơi để thuyết pháp ngay cả khi đang lâm trọng bệnh phải di chuyển bằng xe lăn, và là người đã từng lễ lạy chúng sanh mỗi ngày, thì Ngài hẳn là một hành giả Đại Bồ Tát đã Dẫu máu đổ, mồ hôi tuôn, Quyết không ngừng nghỉ !(10).

Nếu tín đồ Phật Giáo chỉ quan tâm đến việc thầy mình có khả năng thần thông (đặc dị công năng) hay không, mà không nhận ra được tinh thần từ bi giáo hóa chúng sanh của thầy mình, thì các tín đồ đó đã nhầm lẫn mục tiêu và không phải là đệ tử chân thật của Phật.

 

Chương Tám: Đi Vào Tịch Tĩnh  

 

Vào ngày 4 tháng 12 năm 1994, khi Hòa Thượng được đưa vào bệnh viện vì kiệt sức, Ngài nói:

“Tôi muốn nói với quý vị những gì cần làm sau khi tôi ra đi. Tất cả quý vị nên chuẩn bị tâm lý để lo hậu sự. Tôi có thể ra đi bất cứ lúc nào. Không có gì là cố định cả. Mọi người đều có lúc đến và có lúc đi. Đừng buồn. Cứ hành xử giống như quý vị hành xử lúc bình thường.”

Sau nhiều lần thỉnh cầu của bốn chúng đệ tử, Hòa Thượng trụ thế thêm sáu tháng nữa. Khi Hòa Thượng đã chịu đựng sự đau đớn đến tột cùng vì mang nghiệp của chúng sanh (11), Ngài nói:

“Tôi sẽ không tự giúp mình dầu chỉ nhấc ngón tay trong khi tôi nằm trên giýờng này.

Tôi bây giờ như hai con người. Một người thì vẫn đi đó đây cứu độ chúng sanh. Còn một người ở đây, tôi không để ý. Tôi sẽ không tự giúp mình.”

Ôi, thật là sự bạc phước của chúng sanh! Hòa Thượng đi vào tịch tĩnh lúc 3 giờ 15 phút ngày 7 tháng 6, năm 1995 (nhằm ngày 10 tháng 5, năm Ất Hợi). Vị Tổ Sư thứ chín của dòng Thiền Quy Ngưỡng đã nhập Niết Bàn, và vị kế thừa Lão Hòa Thượng Hư Vân đã trở thành một phần của lịch sử.

Có người tự hỏi tại sao là người có những thành tựu cao tột như vậy mà Hòa Thượng lại thị hiện tướng lâm trọng bệnh trước khi ra đi. Thật ra, câu trả lời rất đơn giản. Tất cả những Đại Sư nổi bật qua nhiều thế hệ đều có những lý do riêng khi hiện tướng nhân duyên nào đó trước lúc vãng sanh. Theo Lục Tổ Đàn Kinh, khi Lục Tổ Huệ Năng còn tại thế, đã có những người muốn sát hại ngài; sau khi ngài viên tịch, lại có người muốn chặt đầu ngài để mang về nhà thờ cúng. Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa, ngài bị đầu độc và ám hại sáu lần. Tổ Ấn Độ thứ hai mươi bốn là Tôn Giả Sư Tử thì bị chém đầu do lệnh của triều đình.

Trước khi Đại Sư Huyền Trang mất, ngài bị trượt chân và té ngã, sau đó bị lâm bệnh phải nằm lâu ngày trên giường, ngài nói:

“Tất cả những phiền não hữu tình và ác nghiệp của tôi từ vô thủy đến nay, đều nhờ đức của cơn bệnh nhẹ này mà tất cả đã tiêu trừ. Do đó tôi nên vui mừng”.

Thầy của ngài [Huyền Trang], tức là Luận Sư Giới Hiền, bị bệnh nặng vào lúc tuổi già và bị cơn bệnh hành hạ đau đớn đến nỗi muốn tự tử. Sau đó Bồ Tát Quán Âm hiện đến trong giấc mơ của ngài và khuyên bảo :

“Con trước kia từng là một vị quốc vương gây nhiều khốn khổ cho chúng sanh, cho nên nay phải chịu quả báo này. Hãy thành tâm sám hối, kiên nhẫn chịu đựng đau khổ, và tinh tấn xiển dương Kinh Luận, thì nghiệp chướng của con sẽ tự nhiên được tiêu trừ.”

Trước khi Hòa Thượng viên tịch, Ngài có làm bài thơ về bệnh trạng của mình như sau:

Tàn hơi khó sống ngày còn lại,
Triền miên trong nỗi khổ bệnh, già.
Ngày ăn uống như dùng độc dược,
Đêm nằm giường bệnh như trùng cứng,
Trong mộng lại gặp quỷ vô thường,
Tỉnh giấc khó tìm thần cứu mạng.
Biết chăng mạng người một hơi thở?
Mau quay về chốn Cực Lạc thanh tịnh. (12)

Cho đến lúc nhập diệt vào ngày 7 tháng 6 năm 1995, bệnh tình của Hòa Thượng không có dấu hiệu thuyên giảm, cũng không có những điềm lành hay phép lạ xảy ra. Bằng cách đó, không để lại dấu vết, Ngài vì chúng sanh mà chuyển Pháp nhân duyên — thành trụ hoại không và sanh lão bệnh tử. Suốt cuộc đời Ngài, Hòa Thượng đã chữa lành bệnh cho vô số chúng sanh, nhưng lại không quan tâm đến bệnh tình của mình. Ngài chọn cách ra đi đau đớn nhất: chết vì bệnh.

Chúng ta biết rằng Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất có thần thông quảng đại và đã cứu độ vô số chúng sanh. Ảnh hưởng của Ngài lan rộng khắp nước. Ngài có 84 đại đệ tử và đều là những bậc đại thiện tri thức, và bản thân Ngài thường luôn đau ốm. Nghĩ đến tinh thần Bồ Tát của những bậc cao tăng này, chúng ta không khỏi phát lời tán thán vô tận!

Và còn có Lão Hòa Thượng Hư Vân, Thái Đẩu trong Thiền Tông, thọ đến 120 tuổi. Cuộc đời Ngài trãi qua mười nạn, bốn mươi tám biến cố hiếm có và vô số điều kỳ diệu. Thậm chí khi Ngài đã 112 tuổi, Ngài còn bị đệ tử “bán đứng”, bị cướp và bị Cộng Sản tra tấn rất dã man. Ngài chết đi sống lại nhiều lần sau khi bị đánh đập bằng chùy sắt đến chảy máu và xương gân đều gãy đứt.

Đại Sư Hám Sơn Tử Bá, người đã để lại nhục thân bất hoại, cũng đã chịu sự tra tấn tàn bạo và chết vì cục bướu trên lưng.

Hòa Thượng Quảng Khâm, một vị cao tăng trong thời đại của Hòa Thượng, cũng thị hiện có bệnh và viên tịch vào năm 1986; và một vị Pháp Sư tại chùa của Ngài đã kể lại:

“Hòa Thượng nói rằng Ngài sẽ thị hiện có bệnh lúc mất bởi vì thế giới Ta Bà có quá nhiều đau khổ! Làm sao Ngài có thể chịu phí thì giờ được ?”

Hòa Thượng Quảng Khâm nói rất đúng. Thế giới Ta Bà có quá nhiều đau khổ, làm sao Ngài có thể phí thì giờ ở nơi này được ?

Có lần có người thỉnh vấn Hòa Thượng Quảng Khâm rằng:

“Nếu có người có sự chứng đắc rất cao trong việc tu hành, nhưng lại chết vì bệnh tật hoặc tai nạn, đó phải chăng là do định nghiệp của người đó khó có thể chuyển đổi được ?”

Hòa Thượng Quảng Khâm trả lời:

“Quý vị có thể nói rằng định nghiệp của người đó khó chuyển đổi, nhưng quý vị cũng có thể thấy rằng đó là người đó đang trả nghiệp.”

“Chỉ những người có tu hành mới gặp những khổ nạn, trắc trở. Đúng ra đây chính là công đức tu hành của người đó đã giúp giải quyết mọi việc trong một lần này.”

Có vài câu thơ trong di ngôn của Hòa Thượng mà tôi cảm thấy rất thâm thúy và đậm đà Thiền vị, tôi xin ghi lại dưới đây:

Lão tăng nhàn nhã đến, không có việc gì làm. 
Chơi trốn tìm và nằm trên giường bệnh.
Xem sự hiện hữu, quán lý không: không mà chẳng không. 
Chẩn bệnh, hỏi nguồn cơn: nguồn mà chẳng phải nguồn.  

Những câu thơ này giải thích rõ ràng về hiện tượng mắc bệnh của Hòa Thượng. Như tôi đã nói trước đây, tất cả chư Tổ và các bậc Đại Sư, cao tăng đại đức, đều có nhân duyên giáo hóa chúng sanh trong cõi Ta Bà. Chúng ta nên đánh giá thành tựu của một người bằng cách xem xét sự thực hành Bồ Tát Đạo suốt đời, sự từ bi cứu độ chúng sanh, và sự cống hiến cho Phật Giáo của người đó. Chúng ta không nên phán xét một người chỉ dựa vào phép lạ hay điềm lành.

Sau Lễ Trà Tỳ của Hòa Thượng, hơn mười ngàn mẩu xá lợi được tìm thấy (có cả xá lợi hoa và mười hai xá lợi răng), có đủ màu sắc, gồm trắng, nâu, xanh lá cây, xanh da trời, đen và tím. Có nhiều xá lợi kết tủa thành hình trên xương, lóng lánh như ngọc thạch, rất hiếm thấy. Điều nầy chứng tỏ rằng công đức của Hòa Thượng từ việc thuyết pháp kinh điển hơn mười ngàn lần và suốt đời không bao giờ nói dối, quả thật là không thể nghĩ bàn vậy!

 

Chương Chín: Kết Luận   

Tổ Bồ Đề Đạt Ma, không quản ngại xa xôi đã đem Phật Pháp từ Ẩn Độ truyền đến Trung Hoa, là nơi Phật Pháp được phát dương quảng đại. Hòa Thượng Tuyên Hóa đã sớm phát nguyện mang Phật Pháp sang các nước ở Âu Châu và Mỹ Châu, hầu có thể tiếp dẫn càng nhiều chúng sanh hữu duyên dong thuyền về bờ Trí Tuệ bên kia hơn nữa. Khi Hòa Thượng ở Hoa Kỳ, Ngài phát ba đại nguyện:

  1. Chú trọng luân lý đạo đức trong nền giáo dục, đề xướng việc giáo dục thiện nguyện (nghĩa vụ giáo dục).
  2. Phiên dịch kinh điển Phật Giáo sang các ngôn ngữ, và thành lập Học Viện Dịch Kinh.
  3. Tạo thuận lợi trao đổi và đoàn kết giữa các truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa; dung hợp Đại Thừa và Tiểu Thừa.

Hòa Thượng cho rằng giáo dục cũng quan trọng như hoằng pháp. Học sinh tại Vạn Phật Thánh Thành phải học thuộc lòng “Quy Luật Học Sinh” (Đệ Tử Quy) và “Tam Tự Kinh”. Hòa Thượng có thể được xem như là người đầu tiên đề xướng việc giáo dục thiện nguyện tại Tây Phương. Ngài tích cực tìm những giáo sư thiện nguyện để củng cố những tiêu chuẩn cao thượng về học vấn cũng như đạo đức.

Phiên dịch kinh điển Phật Giáo sang các ngôn ngữ trên thế giới chính là hạnh nguyện mà Hoà Thượng đã lập khi xuất gia. Ngài có thể được xem là vị tăng thứ ba đã phát nguyện đem kinh điển Phật Giáo chuyển dịch thành các ngôn ngữ của mọi quốc gia trên toàn thế giới, sau hai Đại Sư Huyền Trang và Giám Chân.

Hơn 130 bộ sách đã được phiên dịch sang Anh ngữ, và công việc phiên dịch sang các ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Việt, tiếng Nam Dương… cũng đang được tiến hành.

Hòa Thượng cũng nỗ lực để dung hợp các truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa. Hoà Thượng từng nói rằng:

“Các truyền thống Bắc tông và Nam tông đều nhằm mục đích giúp chúng sanh phát Bồ Đề Tâm, chấm dứt sanh tử, xa lìa khổ não, đạt được an lạc. Do đó, các truyền thống Bắc tông và Nam tông của Phật Giáo nên có sự cảm thông với nhau và đoàn kết hợp nhất, xem cả hai đều là một. Đừng nên anh làm việc của anh và tôi lo chuyện của tôi, vì như thế, sức mạnh của Phật Giáo sẽ bị phân tán.”

“Bất cứ người nào tìm cách gây chia rẽ trong Phật Giáo đều không phải là đệ tử Phật. Đừng nói là Đại Thừa hay Tiểu Thừa, ngay cả một thừa cũng không có! Lòng ích kỷ tự tư tự lợi, hại người lợi mình của chúng ta, và việc chỉ biết tán dương chính mình và chê bai người khác–đây chính là những nguyên nhân đưa đến chiến tranh.“

Hòa Thượng có lần đã tự trách mình về vấn đề phân chia giữa Phật Giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy:

“Tôi cũng là một tội nhân trong Phật Giáo. Vì sao ? Bởi vì tôi chưa làm tròn trách nhiệm của mình. Tôi chưa thành công trong việc làm gần lại khoảng cách giữa các truyền thống Bắc tông và Nam tông. Nếu các truyền thống Bắc tông và Nam tông bài xích lẫn nhau, mỗi tông đều giương cờ của mình lên và chỉ dụng công trên bề mặt của sự việc, thì làm sao Phật Giáo có thể đoàn kết được ?”

Nhiều cuộc đối thoại giữa các truyền thống Phật Giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy đã diễn ra tại Vạn Phật Thánh Thành, mở ra một trang mới trong lịch sử Phật Giáo Tây Phương.

Hòa Thượng nói rằng Ngài từ một nước Á Châu xa xôi, cách cả hàng nghìn dặm, một thân một mình “đơn thương độc mã” tìm đến nước Hoa Kỳ–vùng đất xa lạ chưa có Phật Pháp—là để mang Chánh Pháp sang phương Tây. Ngày nay, Vạn Phật Thánh Thành đã trở thành một đạo tràng tối trọng yếu ở Tây Phương, và nhiều đạo tràng chi nhánh cũng đã và đang được thành lập.

Hòa Thượng đã hướng dẫn các đệ tử gồm nhiều quốc tịch khác nhau cùng nỗ lực hoằng dương Chánh Pháp, đồng thời đoàn kết các tôn giáo lại với nhau. Hòa Thượng đã bước đi trên con đường dài này với những bước chân vô cùng kiên nhẫn. Sự mong mỏi của Hòa Thượng là tất cả chúng sanh sẽ thành Phật trước Ngài. Ngài muốn giúp tất cả chúng sanh xa lìa khổ não, đạt được an lạc, tìm lại trí tuệ chân thật, đạt được tự tại, giải thoát. Trong một bài khai thị, Hòa Thượng đã nói rằng:

“Tôi chỉ là con kiến nhỏ nhoi cam lòng bò dưới chân tất cả các Phật tử. Tôi là con đường, nguyện cho tất cả chúng sanh giẫm lên mình tôi và đi từ phàm phu thẳng đến Phật quả.

Nếu bất cứ đệ tử nào của tôi bị đọa địa ngục, tôi nguyện sẽ chịu thay cho họ.

Nguyện rằng những kẻ thấy tôi hoặc nghe tiếng nói của tôi, thậm chí chỉ nghe nhắc đến tên tôi, đều sẽ nhanh chóng được thành Phật. Tôi nguyện sẽ ở lại thế giới Ta Bà này và đợi cho đến khi tất cả quý vị đều thành Phật.”

Sự cống hiến suốt cả một đời của Hòa Thượng cho Phật Giáo rộng lớn như hư không, làm sao bài viết nầy có thể mô tả đầy đủ tất cả được ? Ngài đã để lại vô số Pháp bảo cho chúng ta, vì thế, từ nay chúng ta cần phải tinh tấn tu hành, tuân thủ Sáu Đại Tông Chỉ. Chỉ có như thế chúng ta mới không cô phụ bao khổ tâm lao nhọc của Hòa Thượng, và hy vọng Hòa Thượng sẽ nương theo nguyện lực của Ngài mà sớm trở lại để cứu độ chúng sanh!

 


 

 

Ghi chú của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ:

(1) – Mạnh Tử (Mạnh Kha), người đất Châu (372-289 trước Tây lịch), là một nhà hiền triết có công rất lớn trong việc làm sáng tỏ đạo Nho.

– Dương Tử (Dương Chu), người nước Vệ (khoảng 440-360 trước Tây lich); là một triết gia thời Chiến Quốc, sinh vào khoảng 440-360 trước Tây lịch; chủ trương thuyết “vị ngã”—chi lo riêng về việc mình mà không hề đếm xỉa đến thiên hạ sự, quyết gạt bỏ ngoài tại chuyện của người.

– Mặc Tử (Mặc Địch), người nước Sở, là một đại học giả thời Chiến Quốc, làm Đại Phu cho nước Tống; chủ trương thuyết kiêm ái và hòa bình; lập ra học phái Mặc Gia, lấy kiêm ái làm chủ đích.

(1*) – Trong bài phú A Phòng cung phú của Đỗ Mục có câu: “Diệt nhà Tần, chính do Tần, không phải do thiên hạ.” 族 秦 者, 秦 也, 非 天 下 也 Tộc Tần giả, Tần dã; phi thiên hạ dã. (Cổ Văn Quan Chỉ, q. 8, tr. 309.)

(2) Lão Hòa Thượng Quảng Khâm đã từng khai thị rằng: “Trên thế gian hiện nay, đích thực có những người xuất gia như thế. Họ chỉ mưu tính khuếch trương ngôi chùa của mình cho lớn, chiêu dụ tín đồ theo mình cho đông, để khoe là có khả năng trước mặt mọi người! Họ không cho phép tín đồ kính tin các vị Phật ở những chùa khác (chỉ được tin vị Phật ở chùa của họ mà thôi!); và tín đồ cũng chỉ được tin một mình họ thôi, không được tôn kính những người xuất gia khác. Hạng người cống cao ngã mạn, tự tôn tự đại này, chẳng phải vẫn còn lăn lóc trong vòng danh lợi giống như người tại gia bình thường, sống lây lất trong khổ não qua ngày đoạn tháng sao? Phật Pháp vốn chưa suy vi, chính là lòng người đang suy vi vậy!” 

(3) Nguyên văn “Phụ Phật pháp ngoại đạo” [ ]: Ngoại đạo trong Phật pháp. Theo sách Chỉ Quán quyển 10 sự khác nhau của tà nhân còn có ba loại. Một là ngoại đạo ngoài Phật pháp, hai là ngoại đạo phụ vào Phật pháp, ba là học Phật pháp trở thành ngoại đạo. (Tự Điển Phật Học Hán Việt trang 1022).

 (4) Nguyên văn “Nhất châm kiến huyết” [ ] : Một kim thấy máu, là thành ngữ Hoa ngữ ý nói “nói ngắn gọn đúng vào điểm chánh”.

(5) Chứng kiến tâm tánh khó đổi của một số đệ tử, vào tháng 6 năm 1993 Hòa Thượng đã đau lòng cảnh giác mọi người trên khắp thế giới http://www.dharmasite.net/attention.htm

(6) Ở Trung Hoa, người ta dùng hai chữ “dược (thuốc)” và “thạch (đá)” để chỉ chung cho thuốc men. Dược thạch: còn gọi là dược thực, có ý nghĩa là món ăn chữa khỏi bệnh đói khát. Đây là một ẩn ngữ để chỉ món cháo buổi chiều của Thiền lâm. 

(7) Tứ thực: Bốn cách ăn

1) Đoạn thực: Cách ăn phân chia ra thành từng đoạn, từng miếng. Cũng gọi là “đoàn thực,” cách ăn vo lại thành từng nắm.

2) Xúc thực: Cách ăn bằng sự cảm xúc đối với cảnh. Cũng gọi “lạc thực,” cách ăn bằng sự vui sướng.

3) Tư thực: Cách ăn bằng ý nghĩ. Cũng gọi là “niệm thực.”

4) Thức thực: Cách ăn bằng tri thức, lấy Thức duy trì Thể.

(8) Cà-sa. Tên gọi đầy đủ là Cà-sa-duệ; nghĩa là hoại sắc, bất chánh sắc; và là pháp y của người xuất gia tu hành theo đạo Phật. Áo này hình chữ nhật dài, do nhiều miếng vải nhỏ khâu nối với nhau nên trông như hình thửa ruộng. Có 3 thứ áo cà-sa (tam y):

1) Tăng-già-lê (samghati), cũng gọi là đại y hay tổ y; hịêp lại từ 9, 15, hoặc 25 miếng vải (cái áo tràng);

2) Uất-đà-la-tăng (uttâra-samgha), tức là thất điều y, gồm 7 miếng vải hiệp lại (cái áo giữa);

3) An-đà-hội (antarvâsaka), tức là ngũ điều y, gồm 5 miếng (cái áo trong, áo lót).

(9) Xích cà-sa. Còn gọi là xích y, xích giáng y, tức là áo cà-sa màu đỏ.

三 衣; S: tricīvara; y phục ba phần, cũng được gọi là »Nạp y« (衲 衣; s: kanthā) bộ áo vá chắp;

Y phục của một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni. Phần trong (dưới) được gọi là An-đà-hội (安 陀 會; s: antaravāsaka) là một mảnh vải vá (năm mảnh vải vá lại) cuộn lại dùng làm đồ lót dưới. Phần ngoài là Uất-đa-la-tăng (鬱 多 羅 僧; s: uttarāsaṅga) cũng là một tấm vải vá dùng để khoác ngoài để đi khất thực. Phần thứ ba là Tăng-già-lê (僧 伽 梨; s: saṅgāti), một tấm vải khoác ngoài, chỉ được dùng trong những ngày lễ và được vá từ 9-25 mảnh vải nhỏ. Màu của nạp y thường là màu vàng nhưng cũng thay đổi tùy theo tông phái, theo truyền thống. Tăng, ni tại Trung Hoa thường mang màu xanh, nâu. Tại Tây Tạng người ta chuộng màu đỏ, tại Nhật màu đen. Tất cả những y phục này đều phải được may từ nhiều mảnh vải để nhấn mạnh truyền thống sống cơ hàn, vô sản của một tỉ-khâu.  

(10) Câu thơ của Hòa Thượng trong bài Vũ Trụ Bạch 

(11) Trong bộ sách “In Memory of The Venerable Master Hua” có nhiều câu chuyện của các đệ tử của ngài kể về nguyện thừ 12 của ngài: “Nguyện rằng một mình con sẽ nhận chịu hết tất cả khổ nạn của chúng sinh trong toàn Pháp Giới.”. Trong bài viết “Làm Thế Nào Hòa Thượng Có Thể Độ Được Người Tây Phương ?” của Sư Cô Hằng Lương có đoạn đề cập:

(Tạm dịch): “… Tôi nhớ một lần nọ tại Vạn Phật Thánh Thành, có một Tỳ-kheo-ni phạm lỗi lầm, và phạm giới. Cô được Hòa Thượng dạy, giống như ngài đã dạy tất cả chúng ta, là thú nhận lỗi lầm và sám hối sửa đổi. Cô quỳ trong Phật điện giữa đại chúng và đối diện Hòa Thượng, cô sám hối và sau đó Hòa Thượng ngồi trên ghế cao nhìn xuống cô và nghiêm khắc nói, “Những gì con đã làm sẽ làm cho con đọa địa ngục.” Bởi vì vị Tỳ-kheo-ni này rất tin Hòa Thượng, nên cô rất sợ hãi. Cô hỏi “Con có thể làm gì để tự cứu mình?” Hòa Thượng trả lời với nụ cười rộng nở trên gương mặt: “Ta có một cách cứu con. Ta có thể tự mình xuống địa ngục thế con và chịu quả báo cho con.” Cô dĩ nhiên không chấp nhận điều đó, nhưng Hòa Thượng đã nói là ngài sẽ làm chuyện đó.

Một lần khác, một vị Tỳ-kheo-ni khác kể với tôi rằng một tối nọ cô bị bệnh rất nặng và ói mửa hoài không ngừng lại được. Cô rất tin tưởng vào Hòa Thượng do đó cô lễ lạy trước bức hình của ngài và cầu nguyện Hòa Thượng ban phước và lấy đi sự đau khổ của cô. Sau đó đột nhiên cô thấy khỏe, và tối đó cô nghỉ ngơi rất dễ chịu. Sáng hôm sau cô đến buổi lễ quy y lúc đó Hòa Thượng đang truyền Tam Quy Ngũ Giới. Sau khi truyền Tam Quy xong, ngài quay về phía người Tỳ kheo ni đó và nói “Sáng nay thật là khó khăn cho tôi. Vì tối hôm qua tôi đột nhiên bệnh nặng và ói mửa suốt đêm, do đó hôm nay tôi không có sức.” Vị Tỳ-kheo-ni đó biết rất rõ ràng rằng Hòa Thượng đã gánh lấy sự đau khổ của cô.

Nhiều người tự hỏi rằng làm thế nào mà Hòa Thượng lại bệnh như vậy và tại sao ngài lại rời bỏ chúng ta qua hình thức như vậy. Nhưng nhiều người trong chúng ta đã ở gần ngài nhiều năm và chúng ta biết rằng chúng ta cần báo đáp ân từ bi bao la của ngài. Và cách duy nhất để báo đáp là cố gắng tu hành hết sức mình.” (“How Buddhism Changed My Life!trang 18).

(12) Bài thơ dùng thân thuyết pháp nhắc lẽ vô thường và khuyên quy hướng Tịnh độ này được Hòa Thượng đề cập trong chuyến hoằng pháp tại Đài Loan vào tháng 1 năm 1993, được ghi chép lại:

(Tạm dịch):

“Bây giờ tôi muốn chia sẻ vài điều về bệnh tình của tôi mấy lúc gần đây. Nếu quý vị muốn ghi chép thì tôi sẽ nói chậm rãi. Quý vị có thể viết xuống và có thể nghiên cứu sau này. Bài này có tám câu, nhưng không thể xem là thơ chính thức. Có thể xem như là những câu văn xuôi bạch thoại.

Câu đầu nói : Tàn hơi khó sống ngày còn lại (Cẩu diên tàn suyễn độ dư sanh). Khi hơi thở này đi ra, không chắc sẽ có hơi thở kế tiếp vào lại.

Triền miên trong nỗi khổ bệnh già (Lão bệnh triền miên thống khổ trung). Tôi không phải muốn quý vị thương hại tôi. Không phải tôi nói là tôi bây giờ quá già, tất cả quý vị nên thương hại tôi – kẻ ngu si này. Các triệu chứng của tuổi già và bệnh tật không phải mới đến trong một ngày hay một đêm mà đã phát triển dần dần, từ lúc tôi mới sanh ra. Bây giờ chân tôi không còn linh hoạt, tay nhức, lưng đau, mắt mờ, tai lãng, và răng thì lung lay. Khi bị như vậy thì thật đau khổ, không được tự do.

Ngày ăn uống như dùng độc dược (Nhật tiến ẩm thực như phục độc). Khi đến giờ ăn, tôi không thấy thích ăn. Dầu thức ăn ngon đến đâu, khi tôi vừa nếm thì không muốn ăn nữa, cảm thấy như dùng độc dược vậy.

Đêm nằm giường bệnh như trùng cứng (Dạ túc bệnh tháp tái cương trùng). Khi quý vị nghe câu này, quý vị không thấy buồn cười sao? Tôi nằm trên giường bệnh, chỉ như con trùng đã chết cứng, giống y hệt như vậy.

Trong mộng lại gặp quỷ vô thường (Mộng trung lũ phùng vô thường quỷ).  Quý vị có biết các con quỷ vô thường là ai không? Tôi thường gặp chúng trong giấc mơ, nhưng chúng chưa bắt tôi đi. Mỗi khi chúng muốn bắt tôi thì có một vị Bồ tát đến và nói với chúng rằng: “Chưa tới lúc! Không nên bắt ông ta vội, ông ta đang làm việc vì chúng sanh và ông ta chưa làm xong công việc đó.” Vừa nghe như vậy, chúng liền thả tôi ra. Chúng chỉ đến trong giấc mơ để bắt tôi, và tôi đã thấy chúng nhiều lần chứ không phải chỉ một lần. Nhưng tôi cũng thấy chư Phật và chư Bồ tát đến rất nhiều lần. Khi các con quỷ vô thường thấy chư Phật và chư Bồ tát bảo vệ tôi, thì chúng nhìn quanh, đảnh lễ và rút lui. Tôi không biết tại sao chúng lại đảnh lễ tôi.

Tỉnh giấc khó tìm thần cứu mạng (Tỉnh lai nan tầm cứu mạng thần). Khi tôi thức dậy, khó tìm thấy một vị thần tiên nào có thể cứu tôi. Ai có thể cứu tôi? Tôi vẫn tự mình phấn đấu và chiến đấu với các quỷ vương trong lúc bệnh.

Tôi nói thật với quý vị, lần này tôi đến Đài Loan, các quỷ vương đều đợi tôi, sẵn sàng khiêu chiến với tôi. Nếu tôi không có lực lượng, tôi sẽ không dám đến Đài Loan. Ở đây có rất nhiều quỷ vương. Tất cả những quỷ vương đều tìm cách ngăn cản, không cho tôi đến Đài Loan. Tôi nói ra điều này cho dầu quý vị có quan tâm lắng nghe hay không, vì tôi đã đến Đại Loan rồi, tôi có thể sẽ tùy theo hoàn cảnh. Tôi không sợ bất cứ kẻ khiêu chiến nào.

Những con cháu quỷ vương này là ai? Là trong những Phật giáo đồ trong thời mạt pháp.

……..

Biết chăng mạng người một hơi thở? (Nhân mạng hô hấp hoàn tri phủ?) Sanh mạng chỉ trong một hơi thở, quý vị có biết điều đó không? Hãy nhanh lên chuẩn bị hành trang, và …

Mau quay về chốn Cực Lạc thanh tịnh (Tốc phản thanh tịnh Cực Lạc thành). Hãy mau học niệm Phật và cầu sanh về Tịnh Độ. Đó là nơi thanh tịnh nhất, không bận rộn như ở đây. Hương thơm của hoa và tiếng chim hót hoàn toàn khác biệt với thế giới của chúng ta. Do đó “Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng Mạng. Những thứ chim này, ngày đêm sáu thời, hót lên tiếng hòa nhã, tiếng ấy diễn xướng năm căn, năm lực, bảy Bồ-đề phần, tám thánh đạo phần.”. Đức Phật sau đó nói với Xá Lợi Phất rằng đừng nghĩ những chim này là súc sanh. Phật A Dì Đà tạo nên chúng bằng hóa thân để rộng tuyên Pháp âm. Chúng là chim thần, không giống như chim trong thế giới chúng ta. Những chim này có thể sống mà không cần ăn. Chúng không uống mà không khát nước. Chúng không ăn mà không cảm thấy đói. Trong khi chim thường thì sẽ nuốt chửng bất cứ sâu bọ nào mà chúng thấy, chúng lấy đi sanh mạng của sinh vật khác. Chim tại cõi Cực Lạc thì không giết hại, và người ở đó cũng vậy. Do đó Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tán thán cõi Cực Lạc là nơi mà chúng sanh được thoát khỏi mọi khổ não và chỉ hưởng mọi điều vui. Bởi vì Phật Thích Ca không nói dối, chúng ta nên có lòng tin sâu chắc và đừng có chút hoài nghi nào về Thế Giới Cực Lạc.” (“Talks on Dharma during the 1993 Trip to Taiwan”, trang 115 – 141).

 

2016-10-12T16:14:58+00:00