Thượng Nhân Tuyên Hóa Hoằng Truyền Phật Pháp Sang Tây Phương

///Thượng Nhân Tuyên Hóa Hoằng Truyền Phật Pháp Sang Tây Phương

Thượng Nhân Tuyên Hóa Hoằng Truyền Phật Pháp Sang Tây Phương

English | Vietnamese

Thượng Nhân Tuyên Hóa Hoằng Truyền Phật Pháp Sang Tây Phương

[Bài viết của GS Ron Epstein, người đã giới thiệu nhiều người Mỹ đến học đạo với Hòa Thượng Tuyên Hóa (đa số là những người xuất gia và tại gia thuở ban đầu tại Mỹ). Ông là cựu giáo sư dạy tại đại học San Francisco State University, phân khoa Tôn Giáo Học. Các bài viết và sưu khảo của ông có thể tìm thấy tại địa chỉ mạng:http://online.sfsu.edu/~rone/Buddhism/Buddhism.htm]

MỤC LỤC

Tạo Dựng Nền Móng

1/ Ý nguyện sơ khởi truyền pháp sang Tây Phương
2/ Mộ trung tăng (Vị tăng trong phần mộ)
3/ Mùa tu học, giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm vào mùa hè năm 1968
4/ Năm người Mỹ xuất gia
5/ Dự án cho sự phát triển Phật giáo ở Mỹ

Thành Lập Tăng Ðoàn Tại Tây Phương

1/ Ðại lễ Tam Ðàn Ðại Giới đầu tiên tại Tây Phương
2/ Ngài là một nhà cách mạng
3/ Thành lập Hội Phật giáo Trung-Mỹ, và Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới
4/ Những ngôi chùa chiền tự viện được Ngài thành lập ở Tây Phương

Giảng Kinh Thuyết Pháp và Phiên Dịch Kinh Ðiển

1/ Công nghiệp giáo hóa của Ngài
2/ Du hành hoằng pháp tại Tây Phương
3/ Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển Quốc Tế và báo Kim Cang Bồ Ðề Hải

Ðề Xướng Giáo Dục

1/ Ðại học Phật Giáo Pháp Giới
2/ Chương trình huấn luyện chư tăng ni và cư sĩ
3/ Trường tiểu học Dục Lương và trung học Bồi Ðức
4/ Không phân biệt tôn giáo

Ngài để lại di sản bất hủ cho người tây phương


Tạo Dựng Nền Móng

1/ Ý nguyện sơ khởi truyền pháp sang Tây Phương

Tầm nhìn của Ngài rộng xa khắp pháp giới. Ngài giáo hóa chúng sanh mà không phân biệt quốc gia, chủng tộc, tôn giáo, nhưng Ngài có thiện duyên đặc biệt với nước Mỹ. Tuy đa số đệ tử là người Trung Hoa, nhưng lịch sủ sẽ nhớ mãi sự nghiệp hoằng truyền Phật pháp đến với người tây phương của Ngài.

Khởi đầu, nơi phần mộ mẹ hiền ở vùng quê Mãn Châu (đông bắc Trung Hoa), do hạnh hiếu thảo, Ngài dựng am thủ hiếu trong ba năm liền. Khi ấy, Ngài khoãng 19, 20 tuổi vừa mới xuất gia, làm Sa Di. Ngài tự xây chòi lá gần ngôi mộ người mẹ để hành thiền định. Ngày nọ, Ngài thấy Lục Tổ Huệ Năng đi thẳng vào chòi lá. Lục Tổ đàm đạo với Ngài rất lâu, rồi sau đó bảo:

“Trong tương lai, con sẽ qua Hoa Kỳ hoằng pháp… Năm tông phái sẽ phân thành mười tông để giáo hóa chúng sanh. Con sẽ gặp và giáo hóa rất nhiều người, vô lượng vô biên, không thể tính hết được. Ðó là bước đầu mở đường cho công cuộc truyền bá Phật pháp tại Tây Phương.”

Ðó là lời huấn dụ của đức Lục Tổ. Cuối cùng, Ngài đứng dậy, tiễn đưa đức Lục Tổ ra ngoài chòi lá. Ðến khi đức Lục Tổ đi khuất, Ngài mới chợt nhớ là đức Lục Tổ đã nhập niết bàn lâu rồi (vào năm 713).

Dầu thấy điềm lành là đức Lục Tổ hiện ra và dạy bảo rằng sau này sẽ qua Tây Phương truyền bá Phật pháp, nhưng khi đó Ngài ít có liên hệ trực tiếp với người Tây Phương. Mãi cho đến lúc qua Hồng Kông, vào năm 1949 Ngài mới trực tiếp gặp gỡ, hiểu rõ truyền thống văn hóa của họ.

Sau khi chủ trì viên mãn pháp hội Nhập Niết Bàn của tổ Hư Vân (1840-1959), vị thánh tăng đã truyền tâm ấn Thiền tông, dòng Quy Ngưỡng cho Ngài, Ngài tự nghĩ rằng cơ duyên hoằng pháp tại Tây Phương đã đến. Nhiều đệ tử tại gia của Ngài ở Hồng Kông đã sang Hoa Kỳ du học.

Tháng 11 năm 1960, Ngài qua Châu Úc để quan sát tình hình phát triển Phật giáo. Một năm sau, Ngài trở lại Hồng Kông. Trước đó, vào năm 1958, một chi nhánh của Giảng Ðường Phật Giáo được các đệ tử của Ngài thành lập tại vùng Cựu Kim Sơn. Ðáp lời thỉnh cầu của họ, Ngài quyết định qua Mỹ, đến thành phố Cụu Kim Sơn vào đầu năm 1962. Tại ngôi chùa nhỏ trong khu phố Tàu, Ngài giảng kinh A Di Ðà. Khi ấy, có nhũng người Mỹ, thích học đạo tham thiền như cựu phương trượng trụ trì Trung Tâm Thiền tại vùng Cựu Kim Sơn, ông Richard Baker, viếng thăm Ngài.

Mùa thu năm 1962, hiểm họa hỏa tiển Cu Ba sắp xảy ra. Vì muốn đền đáp ân nghĩa trong thời gian sống ở Mỹ, lại thấy rõ hiểm họa chiến tranh Cu Ba, Ngài tuyệt thực trong ba mươi lăm ngày liền, chỉ uống nước lã. Ngài hồi hướng công đức tuyệt thực để cầu nguyện hiểm họa chiến tranh được tiêu trừ.

2/ Mộ trung tăng (Vị tăng trong phần mộ)

Năm 1963, khi giảng kinh thuyết pháp, có một số thính chúng không chịu lắng nghe, mà chỉ nói chuyện thị phi. Mặc dầu được Ngài giáo huấn nhắc nhở, sửa đổi tánh nết, nhưng họ vẫn không thành tâm thọ nhận. Thế nên, Ngài dời Giảng Ðường Phật Giáo từ khu phố Tàu đến một ngôi nhà tại góc đường Sutter và Webster, nơi giữa khu Filmore và khu phố Nhật tại Cựu Kim Sơn. Việc di chuyển của Ngài, đánh dấu cho sự khởi đầu của thời kỳ ẩn cư. Trong thời gian đó cho đến năm 1968, Ngài tự gọi mình là “Mộ Trung Tăng”. Sau này, Ngài tiếp tục gọi chính mình với tên như thế và viết một bài kệ. (Xin xem lại bài kệ ở phần ‘Mộ Trung Tăng’.)

Nơi đó, Ngài đầu tiên tiếp xúc trực tiếp với một số thanh niên Mỹ thích tham thiền học đạo. Vài người đến chùa thường xuyên để tham dự lớp ngồi thiền tập thể, từ bảy đến tám giờ mỗi tối. Vài người lại đến tham dự những buổi giảng kinh thuyết pháp.

Mỗi khi giảng kinh A Di Ðà, Kim Cang, Tâm Kinh, Pháp Hoa, Chứng Ðạo Ca, Ngài thường dùng những câu kệ ngắn để chú giải cho dễ hiểu.

Năm 1967, vào tháng bảy, Ngài dời giảng đường Phật Giáo trở lại khu phố Tàu, tại chùa Thiên Hậu, một ngôi chùa Tàu cổ kính nhất ở nước Mỹ. Tôi nhớ lại là trước khi đến trường đại học Washington ở Seattle để học bằng cao học, tôi có phụ giúp Ngài dời đồ đạc về chùa Thiên Hậu, trên tầng lầu thứ tư của một tòa nhà tại Waverly Place. Nơi đó, Ngài giảng những bài kệ truyền pháp của bảy vị Phật và phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa.

Nhờ có nhiều cơ hội được gần gũi Ngài, càng ngày tôi lại thích ngồi thiền hơn. Lại nữa, nhờ ngồi thiền cạnh Ngài nhiều lần, tôi bắt đầu biết rõ Ngài là ai. Qua những kinh nghiệm đặc biệt đó, tôi thường đến học đạo không phải chỉ vì Ngài là vị tăng già từ bi, mà thực là một vị kỳ dị khác thường. Theo tôi nhận thấy, Ngài là một vị vô ngã, có định lực và lòng từ bi phi thường. Nhờ vậy, cách nhìn của tôi đối với Ngài và Phật giáo hoàn toàn thay đổi. Ðối với đạo Phật, nhờ thích thú tu học, nên tôi vận dụng hết tâm trí để nghiên cứu giáo lý. Song, lúc ấy, tôi cũng chưa biết rõ về Phật giáo hay lý do quy y Tam Bảo.

Vào mùa thu, tôi viết thơ hỏi thăm Ngài rằng tôi có thể đến đó để tu thiền vào dịp nghỉ lễ giáng sinh không. Ngài viết thơ trả lời:” Rất hoan nghênh. Nơi đây không lạnh cũng không nóng. Hy vọng sớm gặp lại Ông.”

Năm 1968, vào dịp tết Nguyên Ðán, Ngài tuyên bố hai điều trước đại chúng: Thứ nhất, Ngài tiên đoán rằng trong vòng một năm, hoa sen của Phật giáo tại Mỹ sẽ nở rộ. (Song, vào lúc đó, dấu hiệu thanh niên Mỹ tham học Phật pháp rất ít.) Thú hai, nhận thấy rất nhiều người trong các cộng đồng, hội đoàn sợ rằng sẽ có trận động đất xảy ra ở vùng Cựu Kim Sơn, Ngài tuyên bố là nếu còn ở một ngày nào ở đó, Ngài sẽ không cho phép một trận động đất lớn khiến cho dân chúng bị tử thương, hay thành phố bị tàn phá hư hoại.

Mỗi năm, trong dịp tết Nguyên Ðán, Ngài đều lập lại lời tuyên bố trên. (Khi trận động đất xảy ra ở vùng Cựu Kim Sơn vào năm 1989, Ngài đang trên đường hoằng pháp tại Ðài Loan.)

Khi ấy, vì gặp một số người thích tu học theo Phật giáo, nên tôi kể cho họ nghe về hạnh tích của Ngài. Do tánh hiếu kỳ, họ đến tham dự hai tuần thiền thất với tôi tại ngôi chùa đó. Sau này, tôi quyết định thọ giới quy quy y. John Babcock, người dịch giả trong pháp hội giảng kinh Lăng Nghiêm, cũng đồng thọ giới quy y. Trở lại Seattle, chúng tôi sắp đặt vài nơi để cho những người khác có thể cùng nhau đến ngồi thiền. Kế đến, chúng tôi nhóm họp những người thích nghiên cứu tu học Phật pháp lại và viết thơ thỉnh Ngài lên đó để dạy thiền vào dịp nghỉ học trong mùa xuân. Khi nhận lá thơ này, Ngài trả lời là không thể lên Seattle để dạy thiền vào lúc đó được vì nếu Ngài đi thì tại vùng Cựu Kim Sơn, sẽ có một trận động đất. Vì vậy, Ngài đề nghị rằng chúng tôi nên xuống vùng Cựu Kim Sơn để tu thiền.

Một số người thích đạo Phật đến vùng Cựu kim Sơn cùng những người trong vùng, tham gia thiền thất. Cuối thiền thất, Ngài dự định mở khóa học kinh Lăng Nghiêm và tu thiền vào mùa hè năm đó.

3/ Mùa tu học, giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm vào mùa hè năm 1968

Sau kỳ tu học trong mùa xuân, Ngài đề nghị là sẽ có ba tháng tu học và giảng kinh trong mùa hè. Khoảng ba mươi người quyết định tham gia. Trong kỳ tu học chín mươi tám ngày đó, Ngài giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm cho đại chúng hai lần trong một ngày. Mỗi ngày bắt đầu từ sáu giờ sáng và chánh thức chấm dứt vào chín giờ tối. Bên cạnh giảng kinh, thời khoá biểu gồm có những giờ ngồi thiền, học tập, thảo luận, được xen kẻ nhau. Vì vậy rất ít thời giờ dành cho sinh hoạt cá nhân.

Mặc dầu những người tham dự đều thuộc đủ trình độ và tuổi tác, nhưng đa số là thanh niên, sinh viên Mỹ, giũa lứa tuổi hai mươi hoặc ba mươi. Hầu hết, họ hiểu rất ít hay chưa từng biết đến Phật pháp. Song, trong nhóm cũng có vài người đã từng học và nghiên cứu Phật pháp tại cấp cử nhân hay cao học. Một số cũng đã từng có kinh nghiệm ngồi thiền đôi chút. Một số có khả năng giỏi về việc phiên dịch tiếng Tàu ra tiếng Anh. Lúc đầu họ phiên dịch rất thô thiển, nhưng về sau thì rất lưu loát.

Những sự kiện đặc biệt được ghi nhớ trong kỳ tu học vào mùa hè năm đó là lễ truyền tam quy y, mà hầu hết tất cả người tham dự kỳ tu học đó đều chánh thức trỏ thành đệ tử của Ngài. Lại nữa, có lễ truyền giới vào cuối mùa hè, mà đa số giới tử, những vị phát tâm thọ năm giới cấm hay giới Bồ Tát (mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh), đều phát nguyện hành trì theo giới luật. Lúc đó, có một vị phát nguyện giữ giới Sa Di. Trong kỳ tu học vào mùa hè năm đó, Ngài thường nhấn mạnh đặc biệt về sự trì giới, nền tảng căn bản của cuộc sống tâm linh. Cách giáo hóa này nhằm giải độc, chống lại xu hướng đồi trụy văn hóa, hút sách, tà dâm đương thời.

Khóa tu học vào mùa hè năm 1968 kéo dài trong 96 ngày liền. Trong thời gian này, Ngài rất nhẫn nại. Tôi nghĩ rằng phải cần nhấn mạnh điểm này. Ðương thời, dầu người Mỹ không biết gì về đạo Phật, hay lễ nghĩa căn bản, Ngài vẫn rất kiên nhẫn, cố gắng chỉ dạy. Ngài không bao giờ lộ vẻ giận dỗi với ai. Ngài chỉ cách nấu ăn, ngồi thiền chung với chúng tôi, kể những mẫu chuyện đạo vui nhộn, và giúp đỡ giải quyết những vấn đề cá nhân của từng người. Thật là vi diệu, Ngài tổ chức thành công khóa tu học vào mùa hè năm đó.

4/ Năm người Mỹ xuất gia

Sau đó, có bốn người Mỹ phát tâm xuất gia. Trong nhóm này, có ba người đã tham gia kỳ tu học vào mùa hè. Tháng chạp năm 1969, năm người Mỹ, ba nam hai nữ, đồng thọ giới cụ túc tại chùa Hải Hội, thành phố Cơ Long, Ðài Loan. Họ trở thành những vị xuất gia đầu tiên ở Mỹ. Ba vị tỳ kheo: Hằng Khiêm, Hằng Tịnh, Hằng Thọ. Hai vị tỳ kheo ny: Hằng Trì, Hằng Ẩn.

5/ Dự án cho sự phát triển Phật giáo ở Mỹ

Thành lập tăng đoàn người Mỹ xong, Ngài bắt đầu thiết kế chương trình phát triển Phật giáo tại Mỹ. Ngài từng nhấn mạnh đến ba việc quan trọng nhất trong cuộc đời hành đạo là: Thứ nhất, truyền bá chánh pháp Phật giáo đến Tây phương. Thứ hai, phiên dịch ba tạng kinh điển và mười hai phần giáo lý Phật đà ra tiếng Anh cùng các ngôn ngữ khác. Thứ ba, thành lập tiểu học, trung học, đại học. Ðề xướng giáo dục chân truyền.

Thành Lập Tăng Ðoàn Tại Tây Phương

1/ Ðại lễ Tam Ðàn Ðại Giới đầu tiên tại Tây Phương

Vì số người phát tâm cầu xin xuất gia làm tăng ni ngày một tăng, trong năm 1972, Ngài quyết định chính thức truyền tam đàn đại giới lần đầu tiên ở Mỹ, tại Kim Sơn Thiền Tự. Ngài cung thỉnh chư cao tăng đại đức đăng đàn truyền giới. Năm nam một nữ thọ giới tỳ kheo và tỳ kheo ny. Tiếp đến, tại Vạn Phật Thánh Thành, tổ chức Tam Ðàn Ðại Giới vào những năm 1976, 1982, 1989, 1991, 1992, và 1995. Hơn hai trăm giới tử khác biệt quốc tịch, đã xuất gia, thọ giới dưới sự chỉ dạy của Ngài.

2/ Ngài là một nhà cách mạng

Ngài quyết tâm đem chánh pháp Phật giáo truyền bá sang tây phương. Ðồng thời, tuy khuyến khích các đệ tử tu học Phật pháp theo truyền thống của chư tổ sư, nhưng Ngài cũng thường nhắc nhở họ nên chú ý dẹp bỏ tập tục mê tín dị đoan đang che lấp Phật Pháp chân chính, để tránh cho Phật giáo Tây Phương khỏi bị ô nhiễm bởi những lề lối tu hành băng hoại hiện đang lan truyền trong Phật giáo của người Trung Hoa. Ngài cũng khuyến khích họ nên hiểu những lý lẽ chánh đáng trong sự tu hành của người xưa.

Những cải cách của Ngài gồm có: Phục hồi giới luật do đức Phật chế ra như tăng sĩ phải đắp y ca sa, để biểu thị giới tướng. Nhấn mạnh việc đức Phật dạy chư tăng ni thọ trai mỗi ngày một lần, không nên ăn sau giờ ngọ. Thật vậy, tự thân Ngài thực hành và khuyến khích chư đệ tử tuân thủ hạnh này. Ngài lại khích lệ các đệ tử nên hành hạnh ngồi thiền mà không nằm vào ban đêm. Những ngày đầu tại chùa Thiên Hậu, khu phố Tàu vùng Cựu Kim Sơn, một số đệ tử xuất gia, vì muốn hành hạnh này, nên ra đường, kiếm những thùng khuy bỏ, rồi đem về sửa lại, để làm chỗ ngồi vừa vặn, không duỗi chân ra trong lúc ngủ vào ban đêm. Ngài cũng thường chỉ trích những người cư sĩ Trung Hoa, thường đi quy y hay làm đệ tử rất nhiều thầy. Riêng Ngài không nhận những người đã từng quy y với các thầy khác, làm đệ tử của mình.

Có vài người Mỹ bị Phật pháp và Ngài thu hút vì thích những cảm ứng cùng thần thông biến hoá. Họ muốn tìm hiểu về những cảm ứng thần kỳ. Một số có thần thông cũng tự nhiên muốn gần gũi Ngài. Nhận thấy rõ tầm nguy hiểm của sự mong cầu thần thông biến hóa, Ngài thường nhấn mạnh rằng những thần thông cảm ứng phát xuất từ những cảnh giới của sự tu hành, nên chớ đắm trước. Ngài nhắc nhở là đức Phật luôn ngăn cấm biểu diễn thần thông. Ngài cũng nói rõ là thần thông không biểu hiện trí huệ và cũng không nhất định biểu thị phẩm hạnh đoan chánh.

Nói chung, Ngài rất lo lắng về động cơ xuất gia của các đệ tử, nên thường xem xét coi tâm hạnh của họ có được thanh tịnh không. Ngài không muốn thấy tăng sĩ ở Mỹ xuất gia vì những động cơ bất chính. Vì thế, Ngài lập ra gia phong cho chúng đệ tử:

Lạnh chết, không phan duyên
Ðói chết, không hóa duyên
Nghèo chết, không cầu duyên
Tùy duyên không đổi, không đổi tùy duyên
Chúng ta quyết định thực hành ba tông chỉ này.

Xả mạng vì Phật sự
Tạo mạng vì tăng sự
Chánh mạng vì bổn sự
Nơi sự hiểu lý, nơi lý hiểu sự
Luôn hành tổ sư nhất mạch tâm truyền.

cttb114.jpg (7114 bytes)

Ngoài ra, Ngài chế định tiêu chuẩn tu hành cho mình và cho chính các đệ tử xuất gia lẫn tại gia, theo sáu tông chỉ: Không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói láo. Một trong những hành động khoáng đạt là Ngài đã nỗ lực hàn gắn lại sự phân chia hơn hai ngàn năm, của hai truyền thống Phật giáo, Nam tông và Bắc tông. Ngài thường cung thỉnh danh tăng Nam tông đến chùa truyền giới, cùng thương thảo và giải quyết những quan điểm dị đồng.

3/ Thành lập Hội Phật giáo Trung-Mỹ, và Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới

Ngài thấy rõ nhiều hiện tượng băng hoại trong các chùa chiền người Trung Hoa, từ những đại tòng lâm huấn luyện tăng ni, nay giảm dần xuống thành các tịnh xá. Một hoặc hai người xuất gia sống đơn độc, và thường làm những việc tùy theo ý thích. Ðể tránh tình trạnh tu hành giải đãi này ảnh hưởng xấu cho Phật giáo phương tây, Ngài liên hợp tăng chúng và cư sĩ lại thành một tổ chức, hầu mong một mặt là duy trì tiêu chuẩn truyền thống tu hành thanh tịnh của tăng chúng, mặt khác ngăn ngừa sự cúng dường tăng chúng riêng biệt (thay vì cúng dường chung cho tăng đoàn.)

Do đệ tử người Mỹ ngày càng đến đông, Ngài thành lập hội Phật giáo Trung-Mỹ tại chùa Kim Sơn vào năm 1968, để gia tăng và tập trung hóa hệ thống tổ chức. Lại nữa, vì thành viên của hội càng ngày càng tăng theo tầm vóc quốc tế, nên vào năm 1984, hội Phật giáo Trung-Mỹ được đổi tên thành Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới.

4/ Những ngôi chùa chiền tự viện được Ngài thành lập ở Tây Phương

cttb_gate.jpg (11932 bytes)

Vạn Phật Thánh Thành

Với khuynh hướng người Mỹ muốn tu học Phật pháp ngày một đông đảo, ngôi chùa Thiên Hậu nhỏ hẹp không thể chứa đủ người. Thế nên, vào năm 1970, Ngài dời chùa qua một tòa nhà lớn, ba tầng, rồi tu bổ trở thành chùa Kim Sơn. Năm 1976, Ngài thành lập chùa Vạn Phật Thánh Thành, với gần năm trăm mẫu đất, tại vùng núi Diệu Giác (Ukiah), phía bắc thành phố Cựu Kim Sơn. Những tự viện, tịnh xá khác do Ngài thành lập là: chùa Kim Luân ở Los Angeles, chùa Trường Ðê ở Long Beach, chùa Kim Phật ở Vancouver, chùa Kim Ðảnh ở Seattle, chùa Hoa Nghiêm ở Calgary, viện Nghiên Cứu Các Tôn Giáo tại Berkeley, trung tâm Hành Chánh của Tổng Hội và viện Phiên Dịch Kinh Ðiển Quốc tế tại Burlingame, California.

gmm.jpg (15250 bytes)

Chùa Kim Sơn, San Francisco

cttb097.jpg (17033 bytes)

Chùa Berkeley

lbeach.jpg (18742 bytes)

Chùa Trường Ðê, Long Beach

Giảng Kinh Thuyết Pháp và Phiên Dịch Kinh Ðiển

1/ Công nghiệp giáo hóa của Ngài

Nỗ lực giáo hóa của Ngài tại Tây phương rất thâm sâu, quảng đại, khó có thể suy lường. Vào buổi đầu giáo hóa người Tây Phương, Ngài rất ít hay hầu như không được ai trợ giúp. Ngài tự nấu nướng rồi dạy họ nấu ăn. Ngồi thiền chung để dạy họ cách thức ngồi thiền. Kể những mẫu chuyện Phật giáo hài hước cho họ vui vẻ. Dạy họ những phép tắc tu học và cách lễ tụng căn bản của Phật giáo. Hướng dẫn họ học Hoa ngữ cùng thư pháp. Lại nữa, giáo huấn họ phương thức, cách sống theo tiêu chuẩn Phật giáo.

Khi các đệ tử người Mỹ đã có tiến bộ đôi chút về hai mặt hạnh và giới, Ngài chẳng hề nghỉ ngơi chút nào. Không những tiếp tục giảng kinh thuyết pháp hằng ngày, Ngài lại dạy những lớp học khác. Ngài giảng giải hoàn toàn về bốn bộ kinh chính Phật giáo đại thừa là kinh Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, và phần chính của kinh Niết Bàn. Ngài cũng giảng giải Tâm Kinh, kinh Kim Cang, Pháp Bảo Ðàn, Ðịa Tạng, Chứng Ðạo Ca, cùng các kinh điển khác.

Ngài cũng huấn luyện những thành viên phiên dịch kinh điển, cùng tự thân dạy các đệ tử cách thức giảng kinh thuyết pháp. Hầu hết trong những buổi giảng kinh chính thức, Ngài thường bảo các đệ tử thuyết pháp trước, rồi sau đó mới đến phiên mình.

Phương pháp giáo hóa của Ngài bao gồm giảng kinh liên tục và cử hành những pháp hội tu hành trong năm, chiếu theo quy củ của kỳ tu học kinh Thủ Lăng Nghiêm lần đầu; lập ra tiêu chuẩn tu hành tinh tấn cho thiền thất và Phật thất; thường khai thị, thuyết pháp trong các kỳ thiền thất; giải thích việc trọng yếu của sự sám hối trong nhà Phật. Khuyến khích lễ lạy, bái sám như lạy Ðại Bi Sám Pháp, Vạn Phật Bảo Sám, v.v…

Hầu hết những điều giáo huấn quan trọng của Ngài đều nằm trong những buổi giảng kinh thuyết pháp chánh thức. Ðối với Ngài, mọi nơi mọi hoàn cảnh, đều có cơ hội giáo hóa. Ngài không quan tâm những người đối diện là đệ tử của mình hay không. Khi xử sự pháp thế gian, cho dầu là đệ tử hay các nhà chính trị, hoặc các nhà buôn bán đất đai, Ngài thường nhắc nhở họ rằng đó là những cơ hội tốt để giúp họ tự thấy lỗi lầm, tự cải đổi, và tự phát triển trí huệ sẳn có. Ngài luôn cởi mở, thẳng thắn, thành thật với mọi người trong mọi hoàn cảnh. Ngài đối xử mọi người bình đẳng, từ Tổng Thống Mỹ cho đến các em nhỏ. Mọi việc làm đều vì lợi ích cho người khác, chứ không cho chính mình.

2/ Du hành hoằng pháp tại Tây Phương

Mọi nơi mọi chốn, Ngài đều được cung kính thỉnh mời giảng kinh thuyết pháp. Ngài luôn tận tâm tận lực để đáp ứng, dầu cho có hại đến sức khỏe của mình. Ngoài các nước Mỹ, Gia Nã Ðại, và Á Châu, Ngài còn qua đến Châu Âu, Trung Mỹ để truyền bá Phật pháp.

Năm 1973, Ngài qua Brazil, Argentina, Paraguay và những nước ở Trung Mỹ. Mục đích chính của Ngài là gieo duyên lành với dân địa phương, bằng cách dùng rất nhiều thời giờ để tụng chú Ðại Bi, rồi hồi hướng công đức cho dân chúng ở nơi đó.

Năm 1990, thể theo lời thỉnh cầu của các đoàn thể Phật giáo tại Châu Âu, Ngài hướng dẫn phái đoàn hoằng pháp qua đó thuyết pháp. Biết rằng tuổi thọ sẽ bị rút ngắn vì bịnh hoạn, nhưng Ngài luôn vì pháp quên mình, xem nhẹ mạng sống. Những quốc gia mà Ngài đến hoằng pháp gồm có nước Anh, Pháp, Bỉ, Ðức, và Ba lan.

3/ Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển Quốc Tế và báo Kim Cang Bồ Ðề Hải

Năm 1970, Ngài thành lập hội Phiên Dịch Kinh Ðiển Phật Giáo, với mục đích chính là phiên dịch toàn bộ kinh điển nhà Phật từ Hoa ngừ qua tiếng Anh và các ngôn ngữ khác. Ngài nhận thấy rõ rằng việc phiên dịch kinh điển qua tiếng Anh bằng những lời chú giải và ngôn từ dễ hiểu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiên cứu, tu học của người tây phương. Ngày nay, hội Phiên Dịch Kinh Ðiển đã xuất bản hằng trăm quyển kinh Phật giáo, mà trong đó hầu hết đều có những lời chú giải của Ngài.

Lại nữa, trong năm 1970, Ngài cho xuất bản nguyệt san của chánh pháp Phật giáo, Kim Cang Bồ Ðề Hải, được phát hành đến hôm nay. Lúc đầu, nguyệt san này được viết bằng tiếng Anh, rồi dần dần trở thành nguyệt san song ngữ Anh-Hoa, cùng phụ bản bằng tiếng Việt Nam.

Ðề Xướng Giáo Dục

Nhận thấy khuyết điểm của Phật giáo Trung Hoa là không chú trọng vào nền giáo dục, tức là không thể thiết lập một hệ thống trường trung học, đại học Phật giáo. Ðể bổ khuyết vào nền giáo dục đang băng hoại tại Tây Phương, Ngài sáng lập trường đại học Pháp Giới, trường trung học Bồi Ðức, tiểu học Dục Lương, và phát triển chương trình trợ cấp sinh viên học sinh nghèo khó.

Ðối với Ngài, giáo dục thanh thiếu niên là nền tảng vững chắc, hay nhất của quốc phòng. Tại bậc tiểu học, Ngài đề xướng đạo hiếu thuận. Bậc trung học, đề xướng trung thành ái quốc. Bậc đại học, sinh viên không những học các ngành chuyên môn mà còn phải có trách nhiệm chuyển hóa, phát triển, làm lợi ích cho thế nhân.

Ngài quân bình nền giáo dục truyền thống và nền giáo dục hiện đại. Ngài luôn đề xướng phương thức phát triển trí huệ sẳn có của mọi người, tức là dùng cách thức mới mẻ trong việc giáo dục. Cụ thể, Ngài tự viết vài bài ca bằng tiếng Anh, rồi khuyến khích các đệ tủ dùng những phuơng pháp đó để giảng dạy Phật pháp.

1/ Ðại học Phật Giáo Pháp Giới

Năm 1976, Ngài thành lập trường đại học Phật Giáo Pháp Giới; cơ sở chính được đặt tại Vạn Phật Thánh Thành. Mục đích chính là xiển dương Phật giáo đến mọi tầng lớp, bồi dưỡng tâm linh, lợi ích xã hội, khai ngộ chúng sanh. Trường đại học hiện nay đang dạy những môn về Phật học và tu trì, phiên dịch kinh điển, giáo dục Phật học, Hoa ngữ, v.v…

Trong những lời di huấn cuối cùng, Ngài dạy các đệ tử rằng phải đặc biệt chú ý phát triển thật sự trường đại học, để hoàn thành dự kiến và niềm hy vọng của Ngài.

Trong thời gian qua, rất nhiều giáo sư đại học nổi tiếng, thường đến thăm viếng và tiếp thọ những lời giáo huấn của Ngài, như Edward Conze, P. Jaini, David Ruegg, Henry Rosemont, Jr. and Jacob Needleman, v.v…

Ngài cũng được thỉnh mời đến thuyết giảng tại các trường đại học như Stanford, Berkeley, University of Washington, University of Oregon, UCLA, University of California at Davis, University of Hawaii, San Francisco State University.

2/ Chương trình huấn luyện chư tăng ni và cư sĩ

Năm 1982, Ngài thành lập chương trình huấn luyện tăng ni và cư sĩ, với mục đích chủ yếu vào việc tu trì học tập Phật pháp trong khuôn viên tu viện, dựa trên nền tảng của giới định huệ. Chương trình huấn luyện tăng ni, chú trọng vào sự hành trì tông giáo, luật lệ sinh hoạt và quản lý tự viện. Xuyên qua các chương trình này, Ngài đã huấn luyện được những nhân tài phục vụ cho Tổng Hội và cho Phật giáo.

3/ Trường tiểu học Dục Lương và trung học Bồi Ðức

Do sự đề nghị của cụu quản trị viên thành phố Cựư Kim Sơn, Carol Ruth Silver, Ngài thành lập trường tiểu học Dục Lương vào năm 1976. Ðể hỗ trợ việc bồi dưỡng mầm non thiện đức của trẻ em, trường tiểu học nhấn mạnh vào nền giáo dục có phẩm chất. Ðề xướng chương trình song ngữ, tiếng Anh và tiếng Hoa, và dạy về căn bản văn hóa của đông phương cùng tây phương. Cô Terri Nicholson và các thầy cô giáo khác giảng dạy những lớp học đầu tiên bên dưới hầm nhà của viện Phiên Dịch Quốc Tế tại đường Washington, Cựu Kim Sơn. Trường học được dời về Vạn Phật Thánh Thành vào năm 1978. Trường trung học Bồi Ðức được khai giảng vào năm 1980. Học sinh nam và học sinh nữ được học hành riêng biệt vào năm 1981.

4/ Không phân biệt tôn giáo

Ngài bảo rằng đối với Phật giáo, người ta thường dán nhãn hiệu cho là giáo lý rất hạn hẹp. Ngài thường nhấn mạnh rằng giáo lý Phật giáo là dùng để giáo hóa chúng sanh. Ngài cũng phê bình sự phân chia trong Phật giáo, vì đó là điềm báo hiệu thời mạt pháp. Thêm nữa, Ngài nhắc nhở mọi người đừng nên quá chấp trước vào sự phân biệt giữa tôn giáo, mạch phái. Ngài chủ trương các tôn giáo phải hỗ tương, học hỏi những điều hay lẽ phải và bổ khuyết lẫn nhau. Ðể thực hành thiết thực, Ngài mời hồng y thiên chúa giáo Vu Bình tại Ðài Loan đến Vạn Phật Thánh Thành, thành lập và làm chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu tôn giáo thế giới. Ngài đề nghị rằng hồng y Vu Bình sẽ là người Phật tử giữa những người Thiên Chúa giáo, còn Ngài sẽ là người Thiên Chúa giáo giữa những người Phật tử. Chẳng may, hồng y Vu Bình qua đời đột ngột, làm đình chỉ việc thành lập trung tâm đó. Sau này, vào năm 1994, viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Thế Giới được thành lập tại Berkeley.

Năm 1987, Ngài chỉ đạo trường đại học Pháp Giới tổ chức hội thảo tôn giáo Quốc Tế tại Vạn Phật Thánh Thành. Trong năm 1987, Ngài cũng diễn giảng tại khóa hội thảo Phật Giáo-Cơ Ðốc Giáo Quốc Tế lần thứ ba tại Berkeley. Có lần, Ngài được thỉnh mời đọc bài điếu văn tại giáo đường Từ Ân (Grace Cathedral) ở vùng Cựu Kim Sơn.

Năm 1989, Ngài được hội Quaker thỉnh mời đến Pendle Hill, Pennsylvania, để thuyết pháp định kỳ tại trung tâm tu học đó. Năm 1992, Ngài là quý khách chủ trì pháp hội hằng năm của nhóm Vedata Society. Ðáng kể thêm là tình đạo chân thành giữa Ngài và cha John Rogers, giáo sĩ trường đại học Humbolt State University, rất mật thiết.

Ngài để lại di sản quý báu cho người tây phương

Suốt cuộc đời, Ngài luôn khiêm cung, vô ngã, và tận tụy rãi lòng đại bi đến tất cả chúng sanh. Ngài hành đạo không nghỉ ngơi, chỉ muốn dẹp trừ màng vô minh, mê si đang che lấp bản tánh chân thật của chúng sanh. Ngài luôn hành đạo vì hòa bình nhân loại, tôn giáo, quốc gia, thế giới. Mặc dầu chú trọng vào việc phát triển Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới, sự cống hiến và công đức truyền bá Phật giáo qua tây phương của Ngài được tóm tắt như sau:

Phật giáo đã có mặt ở Trung Hoa trước khi ngài Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền tông, từ Ấn Ðộ sang. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều mê mờ về giáo nghĩa chân chánh của Phật pháp, không thể phân biệt gì là chân thật hay giả dối, gì là hời hợt hay thâm sâu. Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma thắp lên ngọn đuốc trí huệ, làm sáng tỏ chân nghĩa của Phật pháp, bằng cách dạy họ tự mình rõ tâm thấy tánh (minh tâm kiến tánh), chứng được quả vị Bồ Ðề. Ðại lão hòa thượng Tuyên Hóa qua tây phương sau khi Phật giáo được truyền sang đây khoảng một trăm năm. Lúc đó, có rất nhiều người thích nghiên cứu học hỏi Phật pháp, nhưng cũng rất mù mờ với những hiểu biết sai lầm. Vì vậy, nhận thấy rằng chỉ khi nào tăng đoàn Phật giáo được thanh tịnh và vững mạnh thì Phật giáo tại quốc gia đó mới được hưng thịnh, nên Ngài trùng hưng cải cách chế độ của tăng đoàn, chú trọng việc giữ gìn giới luật tinh nghiêm của hai chúng đệ tử xuất gia và tại gia. Nhận biết bản tánh người Mỹ rất thích thực tế, và nhờ tiếp thừa tinh thần của tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, Ngài đề xướng thực hành thiền định tinh tấn, để họ có thể trực tiếp tự chứng ngộ giáo nghĩa chân chánh của Phật giáo. Vì có một số người nhận thức sai lầm về Phật giáo, Ngài giảng giải kinh điển Phật giáo bằng phương pháp đơn giản dễ hiểu, và chỉ rõ sự liên hệ mật thiết giữa chân nghĩa kinh điển cùng việc tu tập thực hành trong đời sống hằng ngày. Sau đó, lại phiên dịch những lời chú giải ra Anh ngữ để giúp các độc giả tây phương tiện việc nghiên cứu học hỏi. Cuối cùng, Ngài quyết định chọn lựa tây phương là nơi thực hành giáo hóa, tức dùng sự hành trì chân thật của mình mà hóa độ họ trong đời sống hằng ngày, hầu chỉ rõ chân nghĩa Phật giáo. Nhờ phương thức này, vô số người tây phương vô cùng cảm động tri ân và thực hành theo những điều Ngài đã giảng dạy. Thật sự Ngài đã gieo mầm mống Bồ Ðề vào trong tâm thức của họ vậy.

2016-10-12T16:14:53+00:00