Home

Home2026-02-18T10:34:12-08:00

Video Các Pháp Hội

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Nhập Pháp Giới

Avatamsaka Sutra lecture, giảng bằng tiếng Anh, tại Berkeley Monastery, thứ Bảy hằng tuần:  7:30 tối giờ địa phương
Thời gian quốc tế:

  • Berlin, Đức: 4:30 sáng Chủ Nhật
  • Hà Nội: 9:30 sáng Chủ Nhật
  • Houston, TX:  9:30 tối thứ Bảy
  • London: 3:30 sáng Chủ Nhật
  • Sydney, Úc: 1:30 chiều Chủ Nhật

Trực tiếp trên kênh DharmaRealmLive,

Phiên Dịch tiếng Việt qua Zoom: Bấm vào đây
Số ID: 837 89825569, mã: 999999

Cập Nhật

Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp – Đầu Đà Đệ Nhất

Ma Ha Ca Diếp”: Ma Ha, nghĩa là “đại” (lớn); Ma Ha Ca Diếp chính là “Đại Ca Diếp”. Ca Diếp dịch là “ẩm quang”, còn gọi là “quang ba” ; lại còn một tên gọi nữa là “Đại Quy Thị”. Đại Quy Thị là họ của Tôn giả, vì tổ tiên của Tôn giả khi tu đạo, có một con rùa (quy) lớn ngậm một bức họa đến cho tổ tiên của Tôn giả xem, cho nên tổ tiên của Tôn giả mới lấy “Đại Quy Thị” làm họ cho giòng tộc.

A Nhã Kiều Trần Như – Công Án “Vua Ca Lợi và Tiên Nhẫn Nhục”

“A Nhã Kiều Trần Như” là một trong năm vị Tỳ kheo đệ tử Phật được thế độ đầu tiên. Phật ở dưới cội Bồ đề, đang đêm nhìn thấy ánh sao sáng mà giác ngộ; sau khi ngộ đạo, Đức Phật quán sát nhân duyên, xem mình nên độ ai trước? Người trên thế gian nhiều như thế, ai là người ta nên độ đầu tiên? Vì sao khi thành đạo Phật đã ngạc nhiên thốt lên ba lần: “Lạ thay! Lạ thay! Lạ thay! Chúng sanh trên trái đất đều có Phật tánh, đều có thể trở thành Phật.”

Sáu Ðại Tông Chỉ của Vạn Phật Thánh Thành

Sáu Ðại Tông Chỉ của Vạn Phật Thánh Thành là mục tiêu tu hành: Không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.Những điều này là căn bản làm người, là nền tảng tu hành, và là tiêu chuẩn của chánh quyền. Sáu Ðại Tông Chỉ này là sáu con đường sáng. Nếu nhớ được sáu đại tông chỉ này, quý vị có thể thành Phật. Tôi đưa ra sáu đại tông chỉ này cho những người muốn thành Phật, thành Bồ Tát, muốn thành Thanh Văn, A La Hán. Ðây là những tông chỉ quan trọng nhất. Nếu thực hành được, quý vị có thể dùng suốt đời, mà vẫn không tận dụng hết được!

A La Hán – Các Lậu Đã Dứt, Không Còn Phiền Não

La hán có bốn bực: sơ quả A la hán, nhị quả A la hán, tam quả A la hán và tứ quả A la hán. Sơ quả A la hán còn có tên gọi là “quả Tu đà hoàn”; quả Tu đà hoàn nầy là quả đầu tiên của A la hán. Chứng được sơ quả La hán, sanh tử không còn, gọi là “quả vị kiến đạo” (ở vào trình độ thấy được đạo), đây là quả vị thứ nhất. “Tu đà hoàn” là tiếng Phạn, dịch “nhập lưu”, tức là nhập vào dòng chảy pháp tánh của bậc Thánh, đi ngược lại dòng chảy sáu trần của phàm phu”.

“Tâm Pháp Diệu”  

Tâm pháp diệu! Tại sao mà diệu? Toàn thể sơn hà đại địa, sum la vạn tượng, cho đến nhà cửa phòng ốc, hết thảy những thứ đó từ đâu mà có? Đều do từ một niệm hiện tiền trong tâm của mỗi người sanh ra. Mọi thứ nẩy ra từ tâm chúng sanh, quý vị nói xem, vậy chẳng phải là diệu sao? Thế nào từ trong tâm mà có thể sanh ra tất cả?

Hai Nguyện Vọng – Phiên Dịch Kinh Điển và Giáo Dục

Sau khi xuất gia, đối diện với những vấn đề của thế giới, tôi đã nghiên cứu về các tôn giáo và luôn tự hỏi vì sao đạo Thiên Chúa cũng như đạo Giê su lại có thể truyền bá rộng rãi và có nhiều người tin theo như thế. Tôi cảm nhận một cách sâu sắc rằng các đạo lý của Phật Giáo rất cao thâm, vi diệu - cao thâm đến độ không thể đo lường, vi diệu đến nỗi chẳng thể nghĩ bàn - thế nhưng, tại sao đạo Phật lại không được phổ cập, không được lan truyền khắp nơi?

Tôi khám phá ra rằng đó là do kinh điển đạo Phật chưa được dịch ra ngoại ngữ - các bản dịch Anh ngữ còn quá ít ỏi, hiếm hoi. Chính vì thế, nên tuy rằng tôi không hiểu Trung văn và cũng chẳng thông thạo các ngôn ngữ khác, nhưng hễ tôi còn sống, tôi quyết tổ chức sự việc này cho tốt đẹp!

Chân Thật Tu Hành, Chớ Buông Lung

Thời gian quý báu như thế, cho nên chúng ta không được lãng phí. Mỗi người đều phải dụng công tu hành, phải tinh tấn hơn nữa, thì mới mong có được sự thành tựu.  Phàm là kẻ dụng công tu hành thì không có thời giờ để nói chuyện thị phi, chẳng có thời giờ để làm những việc lăng xăng, làm gián đoạn sự tu hành. Về điểm này. tôi hy vọng mọi người hãy chú ý. Khi tôi thấy những người không chịu tu hành thì tôi cảm thấy vô cùng đau xót. Như thế chẳng phải rằng họ đã không thực hành thệ nguyện mà họ đã lập lúc ban đầu, khi mới xuất gia tu hành hay sao ? Những kẻ xuất gia mà "tâm nghĩ một đằng, miệng nói một nẻo" thì có xứng đáng là Tăng Bảo hay không? Tôi mong rằng các vị đều biết tự trọng!

Sáu tên giặc: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý

Hàng ngày chúng ta nghiên cứu Phật pháp tại đây. Chúng ta cần nên "sáng cũng thế, chiều tối cũng thế", ngày ngày đều như thế. Nếu chỉ một ngày ta không như thế, thì ta đã bỏ lỡ một cơ hội. Ngay trong khoảnh khắc quý vị nghĩ không tiếp tục công phu nữa là quí vị đã đánh mất những điều lợi ích mà quý vị đã thâu đạt trước đó. Cũng giống như khi mèo rình chuột, nó đã ngồi đó chờ suốt mấy ngày, rồi lại bỏ đi vì không có đủ kiên nhẫn. Ngay khi mèo vừa bỏ đi, chuột xuất hiện và không bị bắt, điều kỳ lạ là ở đó

Vâng lời dạy bảo tu hành báo đáp ơn Thầy [1]

Thượng Nhân lúc còn tại thế dạy rằng người tu hành điều căn bản nhất là phải học tập rèn luyện tinh thần nhẫn nại, phải nhịn khát, nhịn đói, nhẫn nóng, nhẫn lạnh, chịu đau, chịu mắng, nhẫn chịu nhục, vân vân …; phải nhẫn những điều mà người khác không thể nhẫn, ăn những món mà người ta chẳng thích ăn, làm những việc mà mọi người không thể làm, thì tương lai mới đặng thành tài.

Nếu thực sự tu hành, thì thiên ma không thể nào nhập vào được

Hòa Thượng giảng “Năm Mươi Ngũ Ấm Ma” trong Kinh Lăng Nghiêm vào năm 1968 tại Phật Giáo Giảng Đường, San Francisco. Năm 1988, tại Vô Ngôn Đường, Vạn Phật Thánh Thành, quý Thầy Cô cùng các vị Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di bắt đầu hiệu đính lại bản dịch (Anh ngữ) dưới sự chủ trì của Hòa Thượng; khi hiệu đính, Hòa Thượng có giảng giải thêm cho một số chỗ trong kinh văn, đồng thời trả lời những nghi vấn của đệ tử. Những đoạn giảng thêm và vấn đáp gồm có 42 đoạn, dài ngắn khác nhau, được kết tập lại dưới mục Notes hay Ghi Chú cho quyển “Ngũ Ấm Ma Thiển Thích”

Thân Mang Bệnh Khổ Bởi Duyên Nào?

Tôi đến bất cứ địa phương nào, thường ngày vẫn gặp những người đau bệnh đến xin được cứu chữa. Mang bệnh là do nghiệp nặng từ kiếp quá khứ, nếu như không thế, đương sự tất không bị quái tật. Những người đến kiếm tôi, đều mang những chứng bệnh lạ, Tây y và Ðông y đều bó tay, không cách gì chữa hết. Ða số những người mang quái tật trong mình, là do trong kiếp quá khứ ham lợi dụng người mà không muốn bị thua thiệt;

Giải Thích Sơ Lược Về Bài Tựa Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Bộ Kinh Hoa Nghiêm này chính là kinh của Pháp Giới, cũng chính là kinh của Hư Không. Tận cõi hư không cùng khắp Pháp Giới, không một nơi nào chẳng phải là trú xứ của Kinh Hoa Nghiêm. Mà trú xứ của Kinh Hoa Nghiêm chính là trú xứ của Phật cũng chính là trú xứ của Pháp, cũng chính là trú xứ của Hiền Thánh Tăng, cho nên khi Phật mới thành Chánh Giác, liền nói bộ Kinh Hoa Nghiêm này giáo hóa tất cả Pháp thân Bồ Tát. Bộ Kinh Hoa Nghiêm này vì nó là bộ kinh mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, thế nên đem cất giữ nó trong cung rồng để Long Vương giữ gìn. Sau này do Bồ Tát Long Thọ đến long cung và trở về chép lại theo sự ghi nhớ của mình.

Go to Top